Hải âu cổ rụt Đại Tây Dương dành phần lớn cuộc đời trên biển, nhưng vào tháng 4, những sinh vật này quay trở lại đất liền để sinh sản. Tại các quần thể ven biển rộng lớn, chúng giao phối, làm tổ và nuôi nấng một con non duy nhất.
Ông Kenny Taylor, một nhà bảo tồn và là chuyên gia về hải âu cổ rụt, người đã nghiên cứu loài chim này ở Scotland trong nửa thế kỷ, cho biết: “Chúng ta có thể thấy được sự mâu thuẫn trong hành vi của hải âu cổ rụt. Tuy chúng là chim biển, loài chim của đại dương, nhưng nếu có thể nuôi con trên biển, chúng sẽ làm thế. Dù vậy hải âu cổ rụt lại buộc phải vào bờ”.
Có thể quan sát được khi loài chim này bắt đầu tụ tập ngoài khơi bờ biển Bắc Đại Tây Dương, ban đầu là vài chục con, nhưng sau đó lên tới hàng trăm và hàng ngàn con. Mặc dù Iceland là nơi sinh sống của 60% quần thể hải âu cổ rụt thế giới, chúng ta vẫn tìm thấy sinh vật này trên bờ biển bang Maine (Mỹ), Na Uy và Quần đảo Anh. Vùng Newfoundland và Labrador của Canada là nơi có quần thể hải âu cổ rụt Đại Tây Dương lớn nhất ở Bắc Mỹ, với hơn 350.000 cá thể ghé thăm Khu bảo tồn Sinh thái Witless Bay mỗi năm.
Thú vị hơn là, hòn đảo Lovund của Na Uy đã lấy ngày 14/4 làm dịp lễ kỷ niệm mang tên “Lundkommdagen”, hay còn gọi là “Ngày Hải âu cổ rụt đến”. Mặc dù theo như ông Taylor, loài chim này không phải lúc nào cũng đến chính xác vào ngày đó, nhưng ông đã từng tình cờ chứng kiến chúng kéo đến ồ ạt đúng vào ngày Lundkommdagen khoảng 15 năm trước.
Dù vậy, vì hải âu cổ rụt làm tổ dưới lòng đất nên có những lúc các sườn đồi trông có vẻ vắng lặng một cách kỳ lạ, ngay cả khi đã có hàng chục nghìn con chim trở về đất liền. Việc này khiến các nhà khoa học phải mất nhiều thời gian hơn để nghiên cứu những gì diễn ra trong mùa sinh sản của chúng. May mắn thay, các camera được đặt bên trong hang tổ của hải âu cổ rụt hiện đã bắt đầu hé lộ thế giới bí mật này.
Bí mật trong hang tổ của hải âu cổ rụt
Ngay khi cập bờ, hải âu cổ rụt bắt tay ngay vào việc tìm kiếm hang ổ và bạn tình. Một con chim có thể gắn bó với cả tổ và bạn tình trong suốt quãng đời còn lại. Và hải âu cổ cổ rụt có tuổi đời rất lớn, với nhiều cá thể đạt độ tuổi 30 và những con già nhất có thể chạm ngưỡng 40 tuổi.
Ông Taylor chia sẻ rằng tỷ lệ “ly hôn” của hải âu cổ rụt là rất thấp. Điều này thường chỉ xảy ra nếu một cặp chim không thể sinh sản thành công trong vài lần thử đầu tiên. Và khi điều đó xảy ra, ông lưu ý rằng con cái sẽ tìm một bạn tình khác và chuyển đến hang mới, trong khi con đực thường chỉ tiếp tục quay lại cái hang cũ trên mặt đất.
Không giống như một số loài động vật chỉ sử dụng hang do các sinh vật khác đào để trú ẩn, hải âu cổ rụt sử dụng chiếc mỏ khỏe mạnh và móng vuốt sắc nhọn của mình để tự đào các hốc dưới những tảng đá và trong lòng đất.
Ngoài ra, các camera có thể tiết lộ những loài săn mồi nào đang xâm nhập vào tổ - ví dụ như chuột, một mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng khi chúng được đưa lên các hòn đảo - cũng như loại cá mà loài chim này đang mang về mớm cho con.
Dù vậy, phần lớn cuộc sống của loài chim này vẫn còn là một bí ẩn. Tiến sĩ Don Lyons, nhà sinh vật học chim biển và giám đốc khoa học bảo tồn tại Hiệp hội Audubon Quốc gia Mỹ, cho biết: “Chỉ trong khoảng 10 đến 15 năm trở lại đây, chúng ta mới biết được hải âu cổ rụt ở đâu trong mùa đông”.
Hải âu cổ rụt tìm bạn tình như thế nào?
Nếu chúng ta từng xem những bức ảnh về loài chim này ngậm những hàng cá được xếp gọn gàng trong chiếc mỏ màu cam rực rỡ, hẳn sẽ nghĩ những chiếc mỏ đóng vai trò sinh tử đối với sự thành công của giống loài. Nhưng điều bạn có thể chưa nhận ra là màu sắc sặc sỡ đó chỉ là tạm thời.
Ông Jacob Ligorria, nhà sinh thái học chim biển và nhà thám hiểm của National Geographic, chia sẻ: “Chiếc mỏ thực sự rất quan trọng, nhưng chỉ trong mùa sinh sản”. Hải âu cổ rụt nhìn vào mỏ của nhau như một dấu hiệu đánh giá thể lực. Nói cách khác, mỏ càng to và rực rỡ thì con chim đó càng trở thành một người bạn tình lý tưởng.
“Cũng có một hành vi được gọi là “cọ mỏ”, khi hai con chim trong một cặp gặp nhau, chúng sẽ gõ mỏ vào nhau phát ra âm thanh”, Ligorria cho biết. Nhưng khi mùa sinh sản kết thúc, các mảng sừng trên mỏ của chúng sẽ bong ra, làm thay đổi hình dáng mỏ. Cùng lúc đó, các viền trang trí quanh mắt biến mất, khuôn mặt sẫm lại, và chân chúng phai từ màu cam rực sang màu vàng nhạt. Khi mùa đông tới, hải âu cổ rụt sẽ trút bỏ hoàn toàn lớp màu cam, để lại một chiếc mỏ nhỏ hơn, thon gọn hơn và đen hơn mà nó sẽ sử dụng trong phần lớn thời gian của năm. Một nghiên cứu lưu ý rằng sự thay đổi này thật đáng kinh ngạc, đến mức các nhà quan sát trước đây từng lầm tưởng hải âu cổ rụt mùa hè và mùa đông là hai loài hoàn toàn khác biệt.
Loài chim nhỏ với bản lĩnh sinh tồn vĩ đại
Mặc dù hầu hết những hiểu biết của chúng ta về hải âu cổ rụt đều đến từ khoảng thời gian ngắn ngủi chúng ở trên bờ, nhưng khi ngoài khơi xa, những chú chim bé nhỏ này phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Ví dụ, bộ lông đen trắng đôi khi mang tới cho chúng biệt danh “chim cánh cụt phương Bắc”, thực chất lại là một kỹ xảo ngụy trang bậc cao trên biển, được gọi là “ngụy trang tương phản”. Ông Ligorria giải thích: “Đặc điểm này khá phổ biến trong đại dương, bởi vì nếu hải âu cổ rụt đang đi săn hoặc bị săn đuổi, nếu nhìn từ trên xuống, những loài vật khác sẽ không thể thấy chúng vì màu đen trên lưng sinh vật này hòa lẫn vào màu nước biển sâu thẳm. Và nếu nhìn hướng lên mặt trời sẽ thấy bụng của chúng có màu trắng, hòa quyện hoàn toàn vào ánh sáng”.
Với kích thước chỉ nhỉnh hơn một quả bóng bầu dục, hải âu cổ rụt cũng phải liên tục cảnh giác trước các loài thiên địch của riêng mình, chẳng hạn như chim cắt Bắc Cực sà xuống từ trên cao hay nhiều loài cá và cá mập rình rập từ bên dưới. Ông Taylor đánh giá: “Chúng là một loài chim tương đối nhỏ bé, vậy mà lại làm được những điều vô cùng vĩ đại để sinh tồn giữa đại dương”.
Mặc dù quần thể hải âu cổ rụt Đại Tây Dương vẫn đang ở mức ổn định, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế hiện đã xếp loài này vào danh sách các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Trước đây, một số quần thể cục bộ đã bị tuyệt diệt do nạn săn bắt quá mức - một thách thức mà Hiệp hội Audubon đã nỗ lực khắc phục bằng cách đưa loài chim này về các hòn đảo từng là quê hương của chúng. Hơn thế, các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu xem liệu biến đổi khí hậu sẽ tác động như thế nào đến loài sinh vật này, cũng như các loài cá nhỏ mà chúng phụ thuộc vào để làm nguồn thức ăn.
Ông Lyons, người đóng vai trò nòng cốt trong dự án của Hiệp hội Audubon nhằm đưa hải âu cổ rụt trở lại các hòn đảo làm tổ truyền thống, khẳng định: “Chúng ta có khả năng giúp đỡ loài hải âu cổ rụt thông qua công tác quản lý đại dương hiệu quả và bảo vệ những vùng đất nơi chúng làm tổ. Chúng tôi đã đạt được nhiều thành công trong việc đưa sinh vật này trở lại những nơi như Maine. Vì vậy, câu chuyện của hải âu cổ rụt vừa là một lời cảnh báo, vừa là một tia hy vọng”.