Hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược
Được xác định là năm triển khai các nhiệm vụ đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, năm 2026 được Bộ Khoa học và Công nghệ đặt ra nhiệm vụ trọng tâm là phát triển các công nghệ chiến lược và sản phẩm ưu tiên có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế - xã hội, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm an ninh công nghệ.
Theo Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phát triển, có 6 sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên triển khai ngay. Đó là, mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt; AI Camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống và thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain và các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái (UAV). Đây là những sản phẩm mở đường cho 11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ nhu cầu lớn của thị trường và giải quyết các bài toán thực tiễn trong quản lý nhà nước, sản xuất và đời sống.
11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia gồm: Trí tuệ nhân tạo (AI); bán dẫn và vi mạch; robot và tự động hóa; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu tiên tiến; công nghệ năng lượng mới và năng lượng tái tạo; công nghệ hàng không – vũ trụ; công nghệ dữ liệu lớn và điện toán đám mây; công nghệ blockchain; công nghệ mạng di động thế hệ mới (5G/6G); công nghệ thiết bị bay không người lái (UAV).
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi; đạt tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa tối thiểu 60% trong giá bán sản phẩm và 40% trong giá thành sản phẩm; đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu thị trường trong nước và có sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài.
Song song với phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, việc củng cố hạ tầng nghiên cứu quốc gia được xác định là điều kiện nền tảng. Hiện cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư trong các giai đoạn trước, tập trung vào 7 lĩnh vực ưu tiên gồm công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, cơ khí – tự động hóa, hóa dầu, năng lượng và một số lĩnh vực khoa học, công nghệ khác. Tuy nhiên, phần lớn cơ sở vật chất và trang thiết bị của các phòng thí nghiệm này đã lạc hậu so với trình độ quốc tế.
Giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Tú, Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, dù nguồn lực còn hạn chế, hệ thống 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đã tạo ra dấu ấn đáng kể trong khoa học công nghệ Việt Nam. Các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện chiếm khoảng 72% nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, làm chủ 60% công nghệ lõi, đóng góp khoảng 50% số công bố quốc tế của cả nước, trong đó có nhiều công trình thuộc nhóm 1% và 5% bài báo được trích dẫn nhiều nhất thế giới trên các tạp chí hàng đầu như Nature và Science.
Tuy nhiên, phía sau những kết quả này, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Tú cũng đề cập đến một số điểm nghẽn kéo dài, trong đó có vấn đề nhân sự. Phần lớn đội ngũ nghiên cứu vẫn phải kiêm nhiệm. Tại các đại học, giảng viên vừa đảm nhận khối lượng giảng dạy lớn, vừa phải nghiên cứu, khiến nguồn lực bị phân tán. Nhiều phòng thí nghiệm thiếu kỹ thuật viên chuyên trách, dẫn tới khó duy trì vận hành ổn định các thiết bị phức tạp.
Trong khi đó, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm chuyên sâu, song nhiều thiết bị được đầu tư từ những năm 2000 và đang đối mặt với nguy cơ lạc hậu nhanh trong bối cảnh chu kỳ công nghệ rút ngắn còn khoảng 3–5 năm.
Để các phòng thí nghiệm trọng điểm đóng vai trò là hạ tầng chiến lược trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Chính phủ Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm quốc gia cho các công nghệ chiến lược, tạo nền tảng hạ tầng cho giai đoạn tăng tốc đổi mới sáng tạo từ năm 2026.
Cụ thể, trong giai đoạn 2026–2030, trọng tâm của phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ quốc gia là đầu tư xây dựng, nâng cấp và vận hành hiệu quả hệ thống gồm 9 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 3 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm tập trung phục vụ các công nghệ chiến lược. Theo định hướng này, 12 đơn vị hạt nhân sẽ được lựa chọn để tập trung nguồn lực đầu tư đồng bộ cho 11 công nghệ chiến lược quốc gia. Nhà nước dự kiến áp dụng cơ chế tài chính đặc thù, bảo đảm 100% kinh phí chi thường xuyên trong 5 năm đầu vận hành; đồng thời đặt mục tiêu hình thành 20 nhóm nghiên cứu mạnh và đào tạo 1.000 tiến sĩ gắn với các đề án đầu tư trọng điểm.
Riêng tại Đại học Quốc gia Hà Nội, theo quy hoạch phát triển, hệ thống có 207 phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu; 1 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, 7 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp đại học quốc gia cùng 50 nhóm nghiên cứu mạnh. 8 lĩnh vực công nghệ ưu tiên giai đoạn 2025–2035 của Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ tập trung vào sinh học, vật liệu, chip bán dẫn, chuyển đổi số, môi trường và năng lượng tái tạo. Đại học Quốc gia Hà Nội cũng tập trung vào việc tái thiết toàn diện mô hình phòng thí nghiệm trọng điểm theo hướng tự chủ, mở và gắn với thị trường, trong đó tái cấu trúc, phân loại các phòng thí nghiệm theo hiệu quả hoạt động. Những phòng vận hành tốt sẽ được nâng cấp, tích hợp thêm nhóm nghiên cứu mạnh để trở thành phòng thí nghiệm quốc gia theo chuẩn mới; các phòng kém hiệu quả cần sáp nhập hoặc giải thể nhằm tránh dàn trải nguồn lực. Cùng với đó, trao quyền tự chủ toàn diện cho phòng thí nghiệm, với giám đốc được quyết định nhân sự và phân bổ ngân sách dựa trên KPI.
Hạt nhân của đổi mới sáng tạo quốc gia
Các chuyên gia cho rằng, để phát huy hiệu quả hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, cần xây dựng mô hình vận hành “mở”, cho phép chia sẻ thiết bị giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; đồng thời cung cấp dịch vụ nghiên cứu, thử nghiệm cho doanh nghiệp, miễn hoặc giảm phí cho startup và nghiên cứu sinh. Bên cạnh đó, việc áp dụng cơ chế thí điểm (sandbox) cho phép phòng thí nghiệm tự chủ hơn về nhân sự, ký hợp đồng chuyên gia theo mức lương thị trường, liên kết công – tư trong khai thác hạ tầng nghiên cứu cũng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Cũng theo các nhà khoa học, việc chuyển từ cơ chế cấp phát ngân sách sang đầu tư gắn với các chỉ số đầu ra cụ thể như số công bố quốc tế, số bằng sáng chế, tỷ lệ thương mại hóa công nghệ hay doanh thu từ chuyển giao sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư.
Về phía Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, phòng thí nghiệm trọng điểm sẽ được đầu tư mạnh, bao gồm cả cho khoa học xã hội, mục tiêu có phòng thí nghiệm hiện đại tương đương với các nước phát triển. Việc tập trung đầu tư theo hướng này không chỉ nâng cao năng lực thử nghiệm, kiểm chứng đạt chuẩn quốc tế, mà còn tạo bước ngoặt đột phá về năng lực công nghệ nội sinh, phục vụ phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Việt Nam nâng cao vị thế trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu, hướng tới mục tiêu nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu ASEAN về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu trong những năm tới.
Việc đầu tư đồng bộ và dài hạn cho hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm được kỳ vọng không chỉ nâng cao năng lực nghiên cứu và thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế, mà còn tạo bước đột phá về năng lực công nghệ nội sinh, góp phần thúc đẩy hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao và nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu.