Cựu Bộ trưởng Kinh tế Đức cho biết, việc sử dụng năng lượng làm vũ khí khi nổ ra kể từ xung đột Nga - Ukraine nay đã nhường chỗ cho xu hướng "biến mọi thứ thành vũ khí" sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trở lại Nhà Trắng.
Ông Robert Habeck, chính trị gia thuộc Đảng Xanh, người từng chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh năng lượng cho nước Đức trong cuộc khủng hoảng trước đây, nhận định rằng niềm tin về việc khí đốt "sẽ không bao giờ là vũ khí chính trị" đã khiến các chính phủ Đức liên tiếp rơi vào bẫy chiến lược. Điều này thể hiện rõ qua việc xây dựng hệ thống đường ống Nord Stream và bán các kho dự trữ chiến lược cho tập đoàn Gazprom, những kho chứa đã bị rút cạn trước khi xung đột nổ ra.
Tuy nhiên, việc ông Donald Trump tái đắc cử đã dẫn đến cú sốc an ninh thứ hai với những hậu quả "to lớn, nghiêm trọng... và sâu rộng", bao gồm cả việc sử dụng thuế quan và công nghệ như những loại vũ khí mới, Cựu Bộ trưởng chia sẻ.
"Việc sử dụng năng lượng làm vũ khí vốn đã tồi tệ, thì nay xu hướng biến mọi thứ thành vũ khí lại càng nghiêm trọng hơn. Đây là điều mà tất cả chúng ta nên lấy làm bài học", cựu Phó Thủ tướng của chính phủ liên minh Đức nhấn mạnh.
Châu Âu hiện đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng năng lượng sau các động thái quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran hồi tháng 2, dẫn đến việc đóng cửa eo biển Hormuz, tuyến hàng hải huyết mạch trung chuyển 20% lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu.
Tình trạng giá cả leo thang đã làm dấy lên những lời kêu gọi phát triển năng lượng sạch nội địa, đồng thời xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng châu Âu lẽ ra nên loại bỏ các nguồn nhiên liệu ngoại nhập nhanh chóng hơn.
Ông Habeck, người từng nỗ lực thúc đẩy xây dựng các trạm LNG và đảm bảo nguồn cung khí đốt thay thế khi xung đột tại Ukraine bùng phát, chia sẻ rằng ông đã trải qua những "đêm mất ngủ" trong cuộc khủng hoảng năng lượng trước đó. Nguyên nhân đến từ lo ngại về viễn cảnh phải yêu cầu đóng cửa các nhà máy công nghiệp nếu không kịp thời cung cấp đủ khí đốt.
"Giá khí đốt hiện nay tại Đức có thể cao. Nhưng vào thời điểm đó, đã có một nguy cơ hiện hữu là chúng tôi cạn kiệt hoàn toàn nguồn cung khí đốt", ông Habeck cho biết.
Ông cũng bác bỏ những ý kiến chỉ trích cho rằng việc tập trung thay đổi nhà cung cấp và xây dựng các trạm nhập khẩu có nguy cơ gây lãng phí các công trình hạ tầng, trong bối cảnh quốc gia này đang nỗ lực cắt giảm phát thải.
Bên cạnh đó, vị cựu Bộ trưởng bảo vệ quyết định hồi năm 2022 về việc chỉ trì hoãn đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân cuối cùng của Đức thêm vài tháng, thay vì cho phép nạp lại nhiên liệu và vận hành lâu hơn. Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU) trung hữu, phe đối lập vào thời điểm đó, đã chỉ trích Bộ Kinh tế vì không tiến hành một cuộc đánh giá toàn diện về vấn đề này. Một cuộc điều tra của Quốc hội Đức vào năm 2025 cũng chưa đi đến kết luận cuối cùng.
"Cá nhân tôi sẽ không phản đối việc tiếp tục vận hành các lò phản ứng thêm vài năm nữa, miễn là sau đó chúng đóng cửa vĩnh viễn", ông Habeck khẳng định. Theo ông, một số bộ phận thuộc phe đối lập dường như đang mượn vấn đề này như một "chiêu bài" nhằm đảo ngược đạo luật loại bỏ năng lượng hạt nhân. Đồng thời, việc thay đổi các quy định để cho phép nạp lại nhiên liệu có thể đẩy sản lượng điện lên mức "phá vỡ thị trường năng lượng tái tạo đang trên đà phát triển".
Năm ngoái, Đức sản xuất 60% lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo, phần còn lại đến từ than đá và khí đốt. Ông Habeck cho biết bản thân đã dần trở nên trung lập trước những rủi ro của điện hạt nhân tại Đức, nhưng ông vẫn ám ảnh thảm họa Chernobyl năm 1986 cùng lớp bụi phóng xạ từng bao phủ khắp châu Âu.
"Không có những điệu nhảy hay những nụ hôn dưới mưa, không có những giấc ngủ trên bãi biển, bởi vì bụi phóng xạ lan tràn khắp nơi. Gần như chúng tôi phải ở trong nhà, và khi mới 16 tuổi, tôi đã tự nhủ rằng đây không phải là nguồn năng lượng nên chi phối cuộc đời mình", ông kể lại.
Cuộc xung đột tại Ukraine đã thúc đẩy các quan chức Liên minh châu Âu (EU) đẩy nhanh quá trình cấp phép cho các tuabin gió và tấm pin năng lượng mặt trời. Hiện tại, các nguồn năng lượng tái tạo này đang tạo ra nhiều điện năng hơn so với nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, giới phân tích đánh giá khối này vẫn còn chậm trễ trong việc nỗ lực cắt giảm nhu cầu năng lượng, hạn chế lãng phí và điện khí hóa các lĩnh vực như giao thông vận tải và sưởi ấm.
Đức đã áp dụng một số biện pháp ngắn hạn để tiết kiệm khí đốt vào thời điểm đầu của cuộc xung đột, chẳng hạn như hạ nhiệt độ tại các tòa nhà công cộng xuống mức 18 độ C, và tìm cách hạn chế tiêu thụ trong tương lai bằng cách loại bỏ dần các nồi hơi chạy bằng khí đốt. "Những nhân viên trong Bộ của tôi đã phải mặc áo khoác mùa đông khi ngồi làm việc tại bàn", ông Habeck nhớ lại.
Chính sách này, từng bị một chiến dịch truyền thông gọi là "búa tạ sưởi ấm của Habeck", đã biến máy bơm nhiệt trở thành đối tượng bị chế giễu. Hiện tại, các quy định về năng lượng tái tạo của Đức đang bị nới lỏng bởi chính phủ liên minh do phe bảo thủ lãnh đạo.
Phát biểu từ Copenhagen, nơi ông đang làm việc với tư cách là chuyên gia phân tích tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Đan Mạch, ông Habeck cho biết các quốc gia Bắc Âu, những nơi đã ứng dụng rộng rãi máy bơm nhiệt, không khỏi bày tỏ sự khó hiểu trước sự phản kháng của Đức đối với hệ thống sưởi ấm sạch.
Tuy nhiên, vị cựu Bộ trưởng cũng thừa nhận rằng việc quá chú trọng vào mục tiêu ngăn chặn nguy cơ thiếu hụt khí đốt đã khiến ông đánh giá thấp mức độ “mệt mỏi” của người dân Đức trước tình trạng lạm phát và sự can thiệp vào đời sống cá nhân. Ông cho biết bản thân cũng đã không lường hết được làn sóng phản đối từ giới lãnh đạo các công ty khí đốt.
"Tôi có quen biết cá nhân một vài người trong số họ, đều là những người tử tế. Tôi đoán rằng khi trò chuyện với con cái, họ luôn nói rằng đúng vậy, chúng ta phải thay đổi để cứu lấy hành tinh và sự nóng lên toàn cầu là một mối đe dọa. Thế nhưng rốt cuộc, với tư cách là người đứng đầu doanh nghiệp, họ có những lợi ích cốt lõi cần bảo vệ", ông chia sẻ.
“Tôi cho rằng nước Đức đã dần chấp nhận một hình thức hệ thống sưởi ấm mới, và số lượng xe điện hiện đang trên đà tăng trưởng mạnh”, ông Habeck nhận định. Mặc dù đi sau so với nhiều quốc gia khác, không phải một tháng hay một năm mà thậm chí đã muộn màng tới 10 năm, nhưng với những bước đi quyết liệt, Đức về cơ bản đang đi đúng hướng.