Giữ hồn văn hóa Nam Bộ qua tranh kiếng

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) - Tranh kiếng Nam Bộ - một loại hình nghệ thuật gắn với đời sống và tín ngưỡng - đang được tái hiện qua triển lãm “Nam Sử Họa Kiếng” tại TP Hồ Chí Minh. Không chỉ nhìn lại hành trình hơn 200 năm, triển lãm còn mở ra cách tiếp cận mới, đưa di sản này tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.
Giữ hồn văn hóa Nam Bộ qua tranh kiếng

Trên những lớp kính trong veo, tranh kiếng Nam Bộ từ lâu đã trở thành một phần ký ức thị giác của nhiều thế hệ, từng hiện diện trong không gian thờ cúng, trang trí hay như một vật phẩm mang ý nghĩa cầu chúc. Ít ai biết rằng, ẩn sau vẻ đẹp rực rỡ ấy là cả một hành trình lịch sử kéo dài hơn 200 năm, bắt đầu từ những ảnh hưởng ngoại lai trong cung đình Huế thời Minh Mạng, Thiệu Trị, khi các tác phẩm chủ yếu do thợ Trung Quốc thực hiện hoặc được nhập khẩu.

Đến đầu thế kỷ XX, cùng với cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông đến sinh sống tại Chợ Lớn, tranh kiếng dần bén rễ và phát triển mạnh mẽ tại Nam Bộ. Từ đây hình thành hai dòng tranh phổ biến là tranh khánh chúc và tranh thờ phụng, rồi lan tỏa về Lái Thiêu (Bình Dương cũ), Chợ Mới (An Giang cũ) và khắp lục tỉnh Nam Kỳ. Qua thời gian, dòng tranh này dần mang đậm dấu ấn địa phương, phản ánh đời sống thường nhật, phong cảnh làng quê và các hình tượng tín ngưỡng quen thuộc.

Hành trình ấy được tái hiện trong triển lãm “Nam Sử Họa Kiếng” diễn ra từ nay đến 31/5 tại Annam Gallery (phường Xuân Hòa, TP Hồ Chí Minh). Không gian trưng bày được tổ chức theo dòng chảy thời gian với ba khu vực chính: Từ những tác phẩm nguyên bản gắn với tín ngưỡng và đời sống xưa, đến các tranh gương phục dựng, cuối cùng là những thực hành ứng dụng đương đại.

Ở khu vực đầu tiên, người xem có thể bắt gặp những hình ảnh quen thuộc từng hiện diện trong đời sống Nam Bộ, từ tranh thờ đến tranh trang trí, như một lát cắt của ký ức. Tiếp nối là không gian phục dựng, nơi các nghệ nhân và nhà nghiên cứu lần theo dấu vết của những bức tranh cũ để tái hiện lại bằng kỹ thuật truyền thống. Ở khu vực cuối, tranh kiếng được đặt trong những thử nghiệm mới, mở ra khả năng kết nối với thiết kế, đồ họa hay thời trang, cho thấy sức sống linh hoạt của một loại hình tưởng chừng chỉ thuộc về quá khứ.

Một trong những yếu tố làm nên giá trị riêng biệt của tranh kiếng chính là kỹ thuật vẽ ngược trên kính - đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác cao, bởi gần như không có cơ hội sửa sai, nơi mà nghệ nhân phải thực hiện từng chi tiết theo thứ tự đảo ngược, vẽ phần nhỏ trước, phần nền sau. Chính điều đó tạo nên hiệu ứng thị giác đặc trưng, với màu sắc tươi sáng, đường nét sắc sảo và ánh sáng phản chiếu qua lớp kính.

Trong số các tác phẩm trưng bày, “Ông Địa” gây ấn tượng bởi hình ảnh dung dị, gần gũi với dáng ngồi thoải mái, gương mặt tươi cười, gửi gắm ước vọng về cuộc sống no đủ, may mắn. Tác phẩm “Tứ thời hoa điểu” lại mở ra nhịp điệu bốn mùa qua hình ảnh hoa lá, chim muông rực rỡ, mỗi bức như một lát cắt thời gian, hàm chứa lời chúc an yên, sung túc quanh năm.

Triển lãm quy tụ nhiều tác phẩm của các nghệ nhân, họa sĩ và nhà sưu tập, trong đó có cố nghệ nhân Lương An (1930 - 2002), một tên tuổi tiêu biểu của Chợ Lớn. Ông được biết đến với khả năng viết thư pháp chữ Hán ngược trên kính và đặc biệt là việc đưa tinh thần thủy mặc vào tranh kiếng - một hướng thể hiện hiếm gặp.

Nghệ nhân Trần Văn Nhanh, với hơn 40 năm gắn bó cùng nghề, vẫn bền bỉ giữ lửa cho dòng tranh này. Từ những tấm kính trong suốt, nghệ nhân có thể phục dựng đa dạng các tác phẩm với độ chính xác cao trong từng lớp màu. Trong khi đó, nhà sưu tập Trần Xuân Duy chọn cho mình con đường lặng lẽ hơn, kiên trì tìm lại những bức tranh cũ, lần theo các mẫu hình xưa để tái hiện, như một cách nối dài mạch chảy văn hóa.

Đến với tranh kiếng từ một cơ duyên tình cờ, nhà nghiên cứu - sưu tập Nguyễn Đức Huy đã gắn bó gần một thập niên với loại hình này. Anh cho rằng triển lãm là dịp để công chúng nhìn lại dòng chảy lịch sử của tranh kiếng qua các vùng miền, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới cho thế hệ trẻ. “Tranh kiếng không chỉ bó buộc trong những tấm tranh thờ hay trang trí mà các bạn trẻ hoàn toàn có thể sáng tạo, đưa dấu ấn cá nhân vào để loại hình này có đời sống mới trong cộng đồng hiện tại”, anh Huy chia sẻ.

Một điểm nhấn đáng chú ý là sự xuất hiện của các thực hành đương đại, tiêu biểu như thiết kế “Ngọc ảnh đan thanh” của nhà thiết kế Đào Minh Đức. Từ họa tiết mai - lan - cúc - trúc trong tranh kiếng, anh chuyển thể lên trang phục với màu sắc trong trẻo, đường nét rõ ràng, tạo hiệu ứng như ánh lên dưới lớp kính. Sự kết hợp này cho thấy tranh kiếng không chỉ là di sản cần bảo tồn mà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo cho các ngành nghệ thuật đương đại.

Không khí tại triển lãm cho thấy tranh kiếng không chỉ thu hút những người yêu mỹ thuật truyền thống mà còn hấp dẫn đông đảo bạn trẻ. Chị Cao Du (ngụ phường Chợ Lớn) chia sẻ sự bất ngờ khi nhận ra sự phong phú của dòng tranh này: “Trước đây tôi cứ nghĩ tranh kiếng chỉ phổ biến ở miền Tây, nhưng đến đây mới biết nó hiện diện ở nhiều vùng, từ cộng đồng người Hoa, Sài Gòn đến Huế hay miền Bắc. Tôi cũng ấn tượng khi gặp nhiều bạn trẻ đam mê sưu tập và có thể kể lại những câu chuyện về tranh kiếng mà trước giờ mình chưa từng biết”.

Trong khi đó, anh Nguyễn Trí Nhân, nhà nghiên cứu văn hóa, cho rằng tranh kiếng từng là một phần quen thuộc trong đời sống Sài Gòn - Chợ Lớn xưa, xuất hiện trong các quán ăn hay trên bàn thờ gia đình. “Tôi mong muốn hiểu thêm về kỹ thuật và những nét văn hóa gắn với tranh kiếng, bởi đó cũng là một phần ký ức của đô thị này”, anh Nhân nói.

Không chỉ dừng lại ở việc trưng bày, “Nam Sử Họa Kiếng” còn cho thấy những nỗ lực đưa di sản trở lại đời sống. Từ phục dựng đến sáng tạo mới, tranh kiếng đang được tiếp cận như một chất liệu mở, có thể thích nghi với bối cảnh hiện đại. Những tấm kính vì thế không chỉ phản chiếu quá khứ mà còn tiếp tục kể những câu chuyện mới, góp phần giữ gìn và lan tỏa hồn văn hóa Nam Bộ trong dòng chảy hôm nay.

Phối cảnh cầu Đình Khao.
Dự án Cầu Đình Khao: Dự thầu vượt mức quy định 562 tỷ đồng nhưng vẫn trúng thầu
(Ngày Nay) -  Tại Dự án Cầu Đình Khao, quy định vốn nhà nước hỗ trợ tối đa là 796 tỷ đồng, song một liên danh đã dự thầu với số tiền là 1.358 tỷ đồng, vượt mức quy định đến 562 tỷ đồng, nhưng sau đó lại trúng thầu với phần giá trị này là 745 tỷ đồng. Lộ dấu hiệu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà đầu tư.
Loạt cổ phiếu được kỳ vọng hút dòng tiền trong tháng 5
Loạt cổ phiếu được kỳ vọng hút dòng tiền trong tháng 5
(Ngày Nay) - Sau giai đoạn thị trường biến động mạnh trong quý 1/2026, nhiều chuyên gia và tổ chức phân tích cho rằng dòng tiền đang có xu hướng dịch chuyển sang nhóm cổ phiếu midcap – nhóm vốn hóa vừa được đánh giá còn dư địa tăng trưởng và có mặt bằng định giá hấp dẫn hơn so với nhóm VN30…
Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật số 134/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ 1/3/2026. (Ảnh minh họa)
Thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI)
(Ngày Nay) - Nghị định mới của Chính phủ quy định việc thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống AI, đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với việc thu thập, cập nhật, công khai, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trên các nền tảng này.
Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử phối hợp với UBND đặc khu Cô Tô ký quy chế phối hợp.
Thiết lập "lá chắn xanh" bảo vệ đa dạng sinh học biển tại Cô Tô - Đảo Trần
(Ngày Nay) - Ngày 7/5, Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử phối hợp với UBND đặc khu Cô Tô (Quảng Ninh) tổ chức Hội nghị triển khai các quyết định của UBND tỉnh về việc thành lập, giao đơn vị quản lý và ký kết quy chế phối hợp trong công tác quản lý Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần.
Hoạt động kế toán kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước Hà Nội. (Ảnh minh họa)
Phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng
(Ngày Nay) - Tại Nghị quyết số 26/2026/QH16 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, Quốc hội quyết nghị phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng; tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân đạt 18% GDP, tỷ trọng thu nội địa bình quân khoảng 87 - 88% tổng thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng thu ngân sách Trung ương đến năm 2030 chiếm khoảng 53 - 54% tổng thu ngân sách nhà nước.