Sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn...” ngày 7/5/1954, lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân đội nhân dân Việt Nam bay trên nóc hầm tướng De Castries, báo hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, trở thành biểu tượng sức mạnh của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
72 năm đã trôi qua, song chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vẹn nguyên giá trị, ý nghĩa trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.
“Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng"
Sau 8 năm thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, “kháng chiến, kiến quốc”, quân và dân ta đã lập nên nhiều chiến công to lớn trên các chiến trường, đẩy thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động.
Với tham vọng xoay chuyển tình thế, tháng 7/1953 thực dân Pháp thực hiện Kế hoạch Nava hòng tập trung binh lực, giành thắng lợi trong vòng 18 tháng. Đây là nỗ lực tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh của Pháp được Mỹ giúp sức.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, quân và dân ta đã phát huy quyền chủ động, tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đẩy địch càng lún sâu vào thế bị động, phải tập trung quân lên Điện Biên Phủ để thực hiện cuộc giao chiến chiến lược ngoài kế hoạch.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho bằng được.”
Điện Biên Phủ đã trở thành “điểm quyết chiến chiến lược” giữa ta và địch, trong đó Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh."
17 giờ ngày 13/3/1954, quân ta tiến công cụm cứ điểm Him Lam, nằm ở phía Bắc khu trung tâm Mường Thanh, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là cụm cứ điểm mạnh, được bố phòng kiên cố, đặc biệt là chúng được thông tin về thời điểm bị tiến công nên đã có sự chủ động đối phó, nhưng vẫn bị đánh bại.
Tiếp theo cụm cứ điểm Him Lam, đêm 15/3, quân ta tổ chức tiến công cụm cứ điểm đồi Độc Lập. Đây là cứ điểm do 4 đại đội đóng giữ, có hai tuyến phòng ngự hoàn chỉnh, có công sự vững chắc, quân địch chống trả quyết liệt, nhưng với lực lượng áp đảo, với cách đánh phù hợp và quyết tâm cao, sau hơn 3 giờ tiến công, bộ đội ta đã làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm đồi Độc Lập, bắt sống nhiều tù binh.
Đợt 2 từ ngày 30/3-30/4, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian.
17 giờ chiều ngày 1/5, đợt tiến công thứ 3 của quân ta bắt đầu.
Đến 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng.
Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch.
Trải qua "Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn..." với "đôi chân đất," tinh thần thép và ý chí chiến đấu quật cường, bền bỉ, anh hùng của quân và dân ta, Chiến dịch Điện Biên Phủ đã giành thắng lợi vang dội - "Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng," giáng đòn quyết định, đánh bại nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Đây là bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.”
Tinh thần Điện Biên Phủ trong kỷ nguyên mới của dân tộc
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao thắng lợi của cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính,” là thắng lợi của tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do,” là sự kết tinh sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (ngày 21/7/1954) về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam; tạo cơ sở, tiền đề cho việc giải phóng, xây dựng miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn mang tầm vóc thời đại, trở thành thắng lợi chung của mọi dân tộc bị áp bức.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành tiếng sấm rền vang làm rung chuyển thế giới, xé toạc đám mây đen của chủ nghĩa thực dân-đế quốc, mang đến nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức đứng lên giành độc lập.
Ba tiếng Việt Nam-Hồ Chí Minh-Điện Biên Phủ vang lên khắp mọi nơi, trở thành niềm tự hào và khát vọng tự do của loài người tiến bộ, là biểu tượng của lòng quả cảm vô song và là ngôi sao sáng của phong trào giải phóng dân tộc, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là kết tinh của sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là chiến thắng của chính nghĩa, của lòng dân, của lương tri và phẩm giá con người, được dẫn dắt bởi đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo; bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu, từ truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, được Nhân dân các dân tộc Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước phát huy cao độ và tận tâm, tận lực dốc sức, đồng lòng, đóng góp sức người, sức của cho Chiến dịch.
Đặc biệt, góp phần trực tiếp làm nên chiến thắng là sự cống hiến, hy sinh to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - một đội quân "từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu" với trên 40.000 cán bộ, chiến sỹ đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Những tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh anh dũng trên chiến trường là minh chứng sinh động cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.
Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, viết tiếp bản hùng ca thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách như Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, tinh thần Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Ở đó, vai trò, tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không bao giờ thay đổi. Đó là di sản văn hóa, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Vì lẽ đó, trong bất kỳ thời đại nào, biến động ra sao, việc gìn giữ, phát huy khối đại đoàn kết dân tộc là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, cơ sở vững chắc để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Thực tiễn cho thấy qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Những thành tựu to lớn đó chính là kết quả của ý chí, quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; đồng thời, cũng là minh chứng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò trung tâm, vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 và khát vọng xây dựng đất nước ta hùng cường, thịnh vượng. Trong đó, quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện xuyên suốt trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện Biên Phủ còn được thế hệ hôm nay kế thừa, thể hiện qua tư duy dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới.
Những “trận đánh” mới không còn là chiến trường, mà là cuộc cạnh tranh về tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tinh thần Điện Biên Phủ giờ đây được thể hiện trong từng dự án công nghệ, từng công trình hạ tầng, từng sáng kiến đổi mới. Và ở đó, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam tiếp tục được khẳng định.
Đó là những nhà khoa học trẻ, những startup trẻ tận dụng công nghệ để giải quyết vấn đề toàn cầu, những người nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hay những dự án khoa học góp phần nâng tầm vị thế đất nước.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi các Nghị quyết chiến lược của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định và điều kiện tiên quyết để đất nước phát triển giàu mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tầm vóc thắng lợi và những bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ mãi là những bài học vô giá của cách mạng Việt Nam.
Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ mãi là “tiếng sấm” vang vọng, tạc ghi vào dòng chảy lịch sử mãi về sau, là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, thôi thúc mỗi người Việt Nam đặc biệt là đối với thế hệ trẻ không ngừng vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.