Sau 40 năm đổi mới (1986 - 2026), từ một nền kinh tế lạc hậu, chịu ảnh hưởng của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển và hướng đến mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. GDP bình quân đầu người tăng từ trên 100 USD (năm 1986) lên trên 5.000 USD vào năm 2025, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, hoàn thành mục tiêu tại Văn kiện Đại hội Đảng XIII đặt ra là đến năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.700-5.000 US.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam cũng ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ sau 40 năm đổi mới. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt. Từ một nền kinh tế đóng cửa, Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lớn và là thành viên của nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).
Việt Nam cũng trở thành điểm đến hấp dẫn cho các tập đoàn đa quốc gia. Tăng trưởng kinh tế ổn định và ở mức cao trong nhiều năm liền. Đặc biệt, giai đoạn 2021 - 2025, bất chấp những khó khăn do dịch bệnh COVID-19, bất ổn chính trị, thương mại toàn cầu tác động đến tăng trưởng GDP nhưng Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trên thế giới. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, xếp thứ 32 trên thế giới.
Nhận định về những thành tựu của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, GS. TS Vũ Văn Hiền - nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội Khoá XII cho rằng: Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế và xã hội vượt bậc, được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một “phép màu châu Á”. Những kết quả này không chỉ thể hiện qua các con số tăng trưởng mà còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong đời sống người dân, trong cấu trúc xã hội và vị thế quốc gia.
Nhằm đạt được 2 mục tiêu lớn trong 100 năm lập nước, dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030.
Dù được đánh giá là mục tiêu cao nhất mà Việt Nam chưa từng đạt được, theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Việt Nam đang có khá nhiều dư địa để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026 – 2030. Tuy nhiên, trong bối cảnh mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ không còn phù hợp. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực thông qua chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.
Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh: Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển có ý nghĩa lịch sử. Đảng và Nhà nước cũng đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030; đồng thời, coi đây không chỉ là khát vọng chiến lược, mà còn là thước đo bản lĩnh, tầm nhìn và năng lực điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước.
Để đạt được những mục tiêu đó, ông Nguyễn Đức Hiển cho rằng, "Việt Nam cần kiến tạo những động lực hiện đại, bền vững, phù hợp với kỷ nguyên số và kỷ nguyên xanh; đồng thời, tận dụng tốt các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để bứt phá mạnh mẽ". Chuyển đổi mô hình tăng trưởng cũng là nội dung được nêu ra tại dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng. Dự thảo khẳng định sự chuyển dịch chiến lược từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và sáng tạo.
Theo TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nay là Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho rằng, nếu như suốt hơn một thập kỷ qua, ba đột phá chiến lược: thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực đã dẫn dắt tiến trình phát triển đất nước, thì bước sang giai đoạn 2026 - 2030, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng bổ sung đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
“Đây là bước đổi mới và phát triển tư duy trong hoạch định phát triển của Đảng, với lần đầu tiên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu số được đưa vào mô hình phát triển kinh tế, thay cho mô hình dựa vào tài nguyên, vốn và lao động”, TS. Nguyễn Bích Lâm thông tin.
TS. Nguyễn Bích Lâm cũng cho rằng: Trong kỷ nguyên số, nếu không có nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến thì không thể nói đến phát triển nhanh, bền vững, không thể xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Công nghệ không chỉ nâng cao năng suất mà còn quyết định khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Việc khoa học công nghệ được xác định là một trong các đột phá chiến lược mới nhằm bắt kịp trình độ công nghệ khu vực, phát triển công nghiệp mũi nhọn, tiến tới tự chủ công nghệ cốt lõi trong các lĩnh vực như năng lượng, vật liệu mới, bán dẫn, công nghệ sinh học.
Và để đột phá khoa học công nghệ phát huy “đầu kéo” cho nền kinh tế, Chính phủ cần tạo dựng cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D) và thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa ba nhà: Nhà nước - Viện nghiên cứu - doanh nghiệp…/.