Tin Mới

Ngành nuôi bò sữa phục hồi, doanh nghiệp kinh doanh bứt tốc giai đoạn cuối năm 2019

Báo nói Ngày Nay
(Ngày Nay) - Theo số liệu của Kantar Worldpanel, trong Q2 2019, sữa và các sản phẩm từ sữa tiếp tục là ngành hàng dẫn đầu thị trường FMCG với mức tăng trưởng ấn tượng, lần lượt là 14,7% và 6,8% về giá trị tại khu vực nông thôn và thành thị (4 thành phố lớn). Đây là dấu hiệu cho thấy nhu cầu ngành đã hồi phục trở lại. 

Các nghiên cứu đánh giá cũng cho thấy, người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm hơn đến sức khỏe bản thân, chuyển dịch sang sử dụng các loại sản phẩm chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, với yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm. Do đó, nhu cầu cho các loại sản phẩm chất lượng cao như sữa organic, sữa A2, sữa chua hay sữa thực vật (đậu nành, sữa hạt…) ngày càng tăng.

Lợi thế dành cho các doanh nghiệp nắm bắt sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng. Các doanh nghiệp đầu ngành VNM, TH True Milk sẽ có lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh khi đã sở hữu được hệ thống nhà máy sữa đạt chuẩn quốc tế, cho ra mắt các dòng sản phẩm cao cấp phù hợp nhu cầu thị trường.

Bên cạnh đó, sản phẩm sữa thực vật được dự báo sẽ dẫn đầu mức tăng trưởng trong giai đoạn 2018-2022 (theo Euromonitor). Lợi thế sẽ thuộc về QNS, doanh nghiệp dẫn đầu ngành hàng sữa đậu nành của nước ta.

Đối với Vinamilk, kết quả kinh doanh và lợi nhuận sau thuế của quý 2/2019 đạt lần lượt 14,610 tỷ đồng (+6.3% yoy) và 2,903.8 tỷ đồng (+8.4% yoy), BLNG quý 2 đạt 48% cao hơn cùng kì 47.1% nhờ VNM đã tăng giá bán tất cả sản phẩm bình quân 2% do giá nguyên liệu đầu vào tăng. 

Lũy kế nửa đầu năm, VNM có DT và LNST đạt 27,840.5 tỷ đồng (+7.6% yoy) và 5,701 tỷ đồng (+6.34% yoy) qua đó hoàn thành 51.9% kế hoạch DT và và 54% kế hoạch lợi nhuận.Biên lợi nhuận cải thiện lên 48% nhờ giá bán bình quân tăng 2% bù đắp chi phí nguyên liệu tăng nhẹ trong nửa đầu năm 2019 đạt 11,469.7 tỷ đồng (+0.2% yoy) chiếm 56.5% tổng chi phí sản xuất, nguyên nhân do giá nguyên vật liệu sữa đầu tăng nhẹ lên 3,000-3,300 USD/tấn (+ 7-17% yoy) đối với sữa WMP ở New Zealand, và sữa WMP ở Mỹ tăng lên 3,271 USD/tấn (+9% yoy). 

Ngành nuôi bò sữa phục hồi, doanh nghiệp kinh doanh bứt tốc giai đoạn cuối năm 2019  - ảnh 1

Kết quả kinh doanh của Vinamilk quý 2 năm 2019 mang đến những chỉ số rất khả quan 

Dù vậy, phía Vinamilk vẫn cho rằng giá tuy giá sữa nguyên liệu có tăng trong đầu năm 2019 nhưng xu hướng đang giảm có thể do ảnh hưởng căng thẳng Trung – Mỹ và qua đó nếu giá sữa nguyên liệu tiếp tục giảm thì VNM sẽ có lợi thế cho đợt chào mua nguyên liệu tháng 10 này. SCIC hiện đang nắm giữ 36% cổ phần VNM và khả năng SCIC sẽ thoái bớt vốn ở VNM trong cuối năm 2019-2020. 

Trong báo cáo kinh doanh của Vinamilk thì, mảng nội địa khả quan trở lại: doanhthunửa đầu năm 2019 đạt 23,636.5 tỷ đồng (+6.4% yoy) với BLNG đạt 47.6% nhờ thị trường sữa ở Việt Nam có sự phục hồi trở lại so với cùng kì năm trước. 

Cùngvới đó, mảng xuất khẩu tăng trưởng nhờ mở rộng ASEAN: DT nửa đầu năm 2019 đat 4,151.7 tỷ đồng (+14.8% yoy) với BLNG đạt 46.3%, hiện VNM vẫn tập trung thị trường Đông Nam Á như Phillipines, Myanmar, Cambodia,… 

Bên cạnh đó, "Chương trình ra mắt sản phẩm sữa Việt Nam tại Trung Quốc" đã diễn ra vào tháng 9/2019 sớm hơn kỳ vọng của chúng tôi qua đó triển vọng xuất khẩu của VNM tại thị trường 1.4 tỷ dân thông qua phân phối của chuỗi siêu thị lớn như Hema của Alibaba, Dennis Department Store,v.v. sẽ giúp cho VNM đạt được kế hoạch tăng cơ cấu xuất khẩu sữa lên 25% vào 2021-2022. 

Kếtquả kinh doanhDTT nửa đầu năm 2019 của các công ty con ở nước ngoài khả quan đạt 1,867 tỷ đồng (+ 18.7% YoY) với biên lợi nhuận gộp đạt 28%. Hiện, VNM có 4 công ty con bao gồm Driftwood Dairy, Angkor Dairy, Vinamilk Europe Spostka Z, Lao- Jagro với . Mới đây, VNM vừa tăng vốn đầu tư vào công ty Driftwood từ 10 triệu USD lên 20 triệu USD qua đó hoạt động kinh doanh của các công ty con ở nước ngoài của VNM đang tăng trưởng tốt trên 2 con số kỳ vọng DTT cuối năm 2019 sẽ đạt 3,500 - 4,000 tỷ đồng (+ 6 -20% YoY).

Tiền mặt tăng lên 10.9 ngàn tỷ và nợ vay ngắn hạn tăng lên 3,273 tỷ đồng khiến hệ số thanh toán ngắn hạn giảm còn 2.04x. Tuy nhiên vẫn trong mức an toàn

Nợ vay ngắn hạn của VNM tăng lên 3,273 tỷ đồng nên hệ số nợ/ vcsh tăng lên 39%. 

Hiện tại, VNM đang áp lục chính sách bán hàng mới nhằm hỗ trợ cho đối tác, vì thế số ngày phải thu đã tăng lên 27.9 ngày so với 26.2 ngày năm 2018. Ngoài ra, VNM cần đẩy mạnh bán hàng nhằm ổn định lại số ngày HTK hiện đã tăng lên 62.7 trong năm 2018. Qua đó , VNM đang chậm thu hồi tiền với vòng quay tiền tăng lên 50 ngày so với cùng kì là 36 ngày.

Thị phần của VNM đã tăng 0,9% so với cùng kỳ năm ngoái và 0,4% thị phần từ đầu năm đến nay nhờ vào sự tăng trưởng tích cực doanh thu nội địa và tăng số lượng điểm bán từ 250.000 lên 270.000 điểm trong nửa đầu năm 2019. 

Ý kiến bạn đọc

Kéo xuống để xem tin tiếp theo