Tiểu thuyết mở đầu bằng tình huống trớ trêu. Một người đàn ông liên tục lỡ chuyến bay lúc 0 giờ 15 phút tại sân bay. Trong không gian “phi nơi chốn” điển hình của đời sống hiện đại, anh tình cờ nhặt được một bản thảo tiểu thuyết bị bỏ quên trong sảnh lễ tân.
Càng đọc, anh càng bị cuốn vào mê cung câu chuyện và cuối cùng phát hiện ra khả năng chính mình là tác giả của bản thảo ấy. Qua đó, tác phẩm đặt ra câu hỏi quen thuộc nhưng vẫn còn nguyên sức sống: "việc đọc một cuốn sách có thể biến người đọc thành đồng tác giả của nó hay không?" Điều này gợi nhớ tuyên bố nổi tiếng của Roland Barthes về “cái chết của tác giả”, sự ra đời của người đọc phải trả giá bằng việc xóa nhòa vai trò trung tâm của người viết.
Không dừng lại ở trò chơi văn học, “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” còn mở ra bức tranh rộng lớn về lịch sử Việt Nam gần một thế kỷ, từ năm 1949 đến những năm đầu thế kỷ XXI. Tác phẩm đan xen hai mạch truyện. Một mạch ở sân bay với những chi tiết đời thường hài hước nhưng đầy bất ổn, nơi nhân vật dường như mắc kẹt trong vòng lặp thời gian; mạch kia là nội dung bản thảo, kể về ba thế hệ phụ nữ trong một gia đình qua các biến cố chiến tranh, mất mát, tha hương và những chuyển mình của đất nước.
Chia sẻ tại buổi tọa đàm ra mắt tác phẩm, nhà phê bình PGS.TS. Phạm Xuân Thạch nhận định: "Qua tác phẩm của Hồ Anh Thái, người đọc có thể thấy rõ lịch sử Việt Nam biến động, nhìn thấy lịch sử thế giới thay đổi, nhìn thấy Liên bang Xô Viết thay đổi, nhìn thấy người Việt nghĩ như thế nào, nhìn thấy những hố thẳm chia rẽ người này với người kia”.
Nhà phê bình Phạm Xuân Thạch đặc biệt đánh giá cao giọng văn tác giả khi không chỉ dừng ở phê phán mà còn chứa đựng “một nỗi buồn mênh mông, nhưng đây là nỗi buồn đẹp”, đặc biệt khi nhân vật ở thế hệ thứ ba mang đến thái độ tha thứ.
“Đây là câu chuyện rất đỗi nhân bản về lịch sử, không che giấu khía cạnh cay đắng của lịch sử”, Phạm Xuân Thạch nhấn mạnh, đồng thời khen ngợi lối viết hài hước, trong suốt kết hợp với sự suy tư sâu sắc về con người, đất nước và thế giới, đạt được sự cân bằng nhờ “sự tiết chế ghê gớm, không thả buông cho cảm xúc”.
Từ góc nhìn gần gũi và chân thành về "người anh văn chương" Hồ Anh Thái, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cho biết bà và tác giả “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” từng ở cùng khu tập thể, quen biết từ khi còn là cô bé mười mấy tuổi.
![]() |
Nhà văn Hồ Anh Thái |
Trong mắt Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái không chỉ là nhà ngoại giao cầu toàn, chỉn chu mà còn là người viết nghiêm khắc với bản thân, lao động miệt mài và bền bỉ. Ông từng góp ý nhiều bản thảo cho bà và hướng dẫn cách lập kế hoạch viết hàng ngày vào một giờ nhất định để nâng cao bút lực – dù chính bà thừa nhận chưa bao giờ thực hiện được điều đó.
Tại tọa đàm do Nhã Nam tổ chức nhân dịp sách phát hành và được độc giả đón nhận tích cực, nhà văn Trần Thị Trường bày tỏ sự ấn tượng mạnh mẽ khi "đọc cuốn sách dày 469 trang (chữ hơi nhỏ) trong ba ngày liền, không rời tay, thậm chí lôi tôi ra khỏi giá vẽ và cả giấc ngủ của hai đêm”.
Theo nhà văn Trần Thị Trường, câu chuyện trải dài gần 500 trang nhưng trang nào cũng khiến người đọc khóc, cười, ngạc nhiên và thú vị nhờ “những hạt tri thức mà cây bút đầy ‘ma thuật’ của Hồ Anh Thái như vô tình đặt vào giữa câu chuyện”.
Nữ nhà văn đặc biệt chú ý đến thủ pháp nhân vật không có tên riêng cụ thể (chỉ gọi là “anh”, “chị giày đỏ”, “cô hàng không”…) tạo nên sức hút riêng. “Hồ Anh Thái làm tôi luôn ngạc nhiên, không chỉ kỹ, vô cùng kỹ về chữ và nghĩa, ông luôn làm mới trong những hình thức của câu”, bà nhận xét, đồng thời bày tỏ thích thú với những đoạn viết về sự sống và cái chết, triết lý Phật giáo và cõi tạm được diễn đạt nhẹ nhàng, dễ hiểu.
![]() |
Tác phẩm "Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân" được Nhã Nam ra mắt trong quý I năm 2026 |
Có thể thấy, với phong cách quen thuộc – hài hước, giễu nhại nhưng giàu chiều sâu triết luận – Hồ Anh Thái tiếp tục khai thác những nghịch lý của đời sống hiện đại và lịch sử. Không gian sân bay trở thành ẩn dụ về sự “lệch pha” giữa con người và thời gian, trong khi mạch chuyện lịch sử được kể không theo lối bi tráng quen thuộc mà qua những chi tiết đời thường, trớ trêu, tạo nên sự “trật khớp” thú vị giữa kỳ vọng lớn lao và thực tế cá nhân.
Tác phẩm khép lại trong cảm giác khắc khoải: khắc khoải của con người lỡ nhịp với thời gian, của những thân phận đi qua lịch sử mà khó làm chủ số phận, và của chính người đọc khi ranh giới giữa đời sống và văn bản trở nên mong manh. Hai mạch truyện không chỉ bổ sung mà còn chất vấn lẫn nhau, mở ra không gian đối thoại nơi người đọc vô hình trở thành người đồng sáng tạo.

