Chương trình do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phối hợp với Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQGHN) tổ chức, với sự tham gia của TS. Trần Hoài, Trưởng Bộ môn Di sản học, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật; TS. Nguyễn Văn Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám; ông Huy Nguyễn, CEO kiêm Nhà sáng lập Phygital Labs; TS. Trần Hậu Yên Thế, nhà nghiên cứu mỹ thuật, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật. Tọa đàm do nhà báo Nguyệt Linh, Tạp chí Ngày Nay, đại diện Trung tâm Thông tin UNESCO, đơn vị tham gia dự án Tầm Chân, điều phối.
Diễn ra ngay sau Phiên họp thứ hai đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, tọa đàm tiếp nối những vấn đề được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra, đặc biệt là "khoảng trống" trong năng lực chuyển hóa di sản thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số và tài sản trí tuệ. Từ đó, một câu hỏi xuyên suốt được đặt lên bàn thảo luận, rằng "làm thế nào để di sản không chỉ được lưu giữ mà còn tiếp tục tạo ra giá trị mới trong kỷ nguyên số?".
![]() |
TS. Trần Hoài chia sẻ số hóa di sản từ góc nhìn học thuật. Ảnh: VM-QTG |
Mở đầu chương trình, TS. Trần Hoài làm rõ sự khác biệt giữa "số hóa" và "dữ liệu hóa". Nếu số hóa chỉ dừng ở việc chụp hoặc quét hiện vật thành các tệp dữ liệu thì dữ liệu hóa là quá trình chuyển nội dung di sản thành dữ liệu có cấu trúc, có khả năng truy vấn, liên kết và tái sử dụng lâu dài.
Từ thực tế nhiều dự án hiện nay vẫn mới dừng ở lớp "vỏ" của số hóa, ông cho rằng nền tảng dữ liệu phục vụ nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo vẫn chưa thực sự được hình thành.
Một khoảng trống khác được chỉ ra là Việt Nam vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng và tính minh bạch của các bản sao số hay mô hình phục dựng 3D. Vì vậy, hiệu quả của một dự án số hóa không thể chỉ được đo bằng lượng người truy cập hay doanh thu từ sản phẩm lưu niệm, mà cần được đánh giá qua chất lượng dữ liệu, khả năng lưu giữ lâu dài, quyền quản lý dữ liệu gốc của đơn vị bảo tồn cũng như mức độ làm giàu thêm giá trị của di sản.
Theo TS. Trần Hoài, đã đến lúc chuyển từ tư duy tạo ra những sản phẩm công nghệ đơn lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái tri thức, nơi dữ liệu đồng thời phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo.
![]() |
TS. Nguyễn Văn Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chia sẻ về hành chính số hóa văn bia và các hiện vật tại khu di tích. Ảnh: VM-QTG |
Ở góc độ đơn vị quản lý di tích, TS. Nguyễn Văn Tú phác họa bức tranh chuyển đổi số của Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Đến nay, di tích đã hoàn thành số hóa 200 tác phẩm hai chiều, 155 hiện vật ba chiều, 43 hạng mục kiến trúc với 94 điểm panorama 360 độ cùng toàn bộ 82 bia Tiến sĩ, Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Song song với đó là hệ thống vé điện tử, mô phỏng không gian Văn Miếu thời Lê bằng công nghệ 3D, thư viện số gồm 110 ấn phẩm, phim phù điêu ứng dụng AI và hạ tầng kỹ thuật với hai máy chủ, ba kiosk cùng 10 thiết bị thực tế ảo.
Theo kế hoạch, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ tiếp tục hoàn thiện việc số hóa các hạng mục kiến trúc còn lại và nâng cấp hạ tầng để bảo đảm khả năng vận hành lâu dài. Mục tiêu không chỉ là nâng cao trải nghiệm của khách tham quan mà còn xây dựng nền tảng phục vụ nghiên cứu, giáo dục và bảo tồn trong nhiều năm tới.
Ra mắt đầu năm 2024, "Nghê nơi cửa Khổng sân Trình" là cuốn sách Vật lý Số đầu tiên tại Việt Nam, được phát triển từ công trình nghiên cứu về Nghê Việt của TS. Trần Hậu Yên Thế trong khuôn khổ dự án Tầm Chân do Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam chủ trì.
Dự án có sự tham gia của Trung tâm Thông tin UNESCO (UNET), Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Phygital Labs, đơn vị do ông Huy Nguyễn sáng lập, cung cấp công nghệ định danh số Nomion trên nền tảng blockchain và chip NFC.
Theo ông Đinh Đức Hoàng, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin UNESCO, công nghệ không thay thế di sản mà giúp di sản "sống" trong đời sống đương đại, kết nối hiện vật với tri thức số và mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng.
![]() |
Bài phát biểu của ông Huy Nguyễn cho thấy nhiều thực tiễn trong công nghệ số hóa di sản hiện tại. Ảnh: VM-QTG |
Mang đến góc nhìn từ công nghệ và công nghiệp văn hóa, ông Huy Nguyễn đặt vấn đề về ba yêu cầu song hành của số hóa di sản: xác thực nguồn gốc, bảo vệ bản quyền và tạo giá trị kinh tế. Thực tế hiện nay cho thấy việc sử dụng dữ liệu di sản khi chưa được cấp phép, chứng chỉ xác thực dễ bị làm giả và cơ chế quản lý phí bản quyền còn nhiều bất cập.
Theo phân tích của ông, blockchain kết hợp với các giải pháp xác thực như chip NFC có thể tạo ra bằng chứng ủy quyền minh bạch, chứng chỉ không thể làm giả và cơ chế quản lý phí tự động, mở đường để di sản trở thành tài sản trí tuệ có thể khai thác hợp pháp trong nền kinh tế sáng tạo.
Dẫn số liệu Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích và 8 di sản thế giới nhưng quy mô thị trường khai thác văn hóa mới đạt khoảng 8,1 tỷ USD, CEO kiêm Nhà sáng lập Phygital Labs cho rằng dư địa phát triển vẫn còn rất lớn nếu công nghệ được ứng dụng đúng hướng.
![]() |
TS. Trần Hậu Yên Thế là tác giả nhiều công trình nghiên cứu mỹ thuật gắn với Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trong đó nổi bật là nghiên cứu chuyên sâu về linh vật Nghê. Ảnh: VM-QTG |
Giới thiệu ấn phẩm Nghê nơi cửa Khổng sân Trình, TS. Trần Hậu Yên Thế cho biết cuốn sách số được phát triển từ mong muốn đưa kết quả nghiên cứu về linh vật Nghê đến gần công chúng thông qua một hình thức tiếp cận mới. Theo ông, thay vì chạy theo quy mô hay hiệu ứng trình diễn, nhóm thực hiện lựa chọn một vật phẩm nhỏ gọn là tượng Nghê bằng đồng, mô phỏng nguyên mẫu Nghê tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, tích hợp công nghệ định danh số Nomion để người dùng chỉ cần chạm điện thoại là có thể tiếp cận toàn bộ không gian tri thức số phía sau hiện vật.
TS. Trần Hậu Yên Thế cho rằng mỹ thuật ứng dụng và quà tặng lưu niệm ở Việt Nam hiện nay đang có xu hướng chạy theo những sản phẩm "siêu to, khổng lồ", trong khi truyền thống của cha ông lại đề cao vẻ đẹp tinh xảo, cô đọng và vừa vặn trong từng hiện vật. "Những sản phẩm nhỏ bé nhưng được chế tác tinh mỹ mới có khả năng đồng hành lâu dài với con người, đồng thời có thể phát triển thành các dòng hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp và quà tặng văn hóa mang bản sắc Việt", ông nói.
Cụ thể, công nghệ trong dự án không nhằm thay thế hiện vật mà tạo thêm một lớp giá trị mới, mở ra cuộc đối thoại riêng giữa mỗi người với di sản. "Giá trị của sản phẩm không nằm ở kích thước mà ở chiều sâu trải nghiệm. Chỉ bằng một thao tác chạm, người xem có thể bước vào không gian tri thức gắn với hiện vật và tự mình khám phá những câu chuyện văn hóa phía sau", TS. Trần Hậu Yên Thế chia sẻ.
![]() |
Các diễn giả trao đổi về những định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy số hóa di sản theo hướng bền vững tại tọa đàm. Ảnh: VM-QTG |
Trong phần trao đổi, các diễn giả tiếp tục bàn luận về những "điểm nghẽn" trong quá trình chuyển hóa di sản thành nguồn lực số, ranh giới giữa dữ liệu đơn thuần và dữ liệu có giá trị, cũng như điều kiện để một sản phẩm số vừa chạm tới công chúng, vừa bảo đảm tính xác thực và giá trị học thuật.
Khép lại tọa đàm, các diễn giả cùng thống nhất rằng số hóa di sản cần vượt ra ngoài mục tiêu tạo ra các sản phẩm công nghệ để hướng tới xây dựng một hệ sinh thái tri thức bền vững, nơi công nghệ trở thành công cụ phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa trên nền tảng minh bạch, có trách nhiệm và có sự tham gia của cộng đồng.




