Hành trình nuôi dưỡng bản dịch
Anh có thể chia sẻ lý do sâu xa khiến anh quyết định chọn dịch Hoàng hôn Phương Tây của Oswald Spengler?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Việc tôi đến với Hoàng hôn Phương Tây (Der Untergang des Abendlandes) của triết gia Đức Oswald Spengler diễn ra khá tự nhiên, giống như một sự tích lũy dần dần của niềm yêu thích hơn là một quyết định dứt khoát. Trong nhiều năm làm việc với các văn bản kinh điển của nhân học và văn hóa học, tôi luôn mang một cảm giác vừa ngưỡng vọng, vừa bị thách thức bởi những công trình đồ sộ, những cuốn sách mà người dịch không những chỉ “đọc” mà gần như phải “nghiệm sinh” cùng nó. Có một điều gì đó trong người làm nghề khiến ta không bằng lòng với những công việc vừa sức, mà thôi thúc muốn thử chạm vào một giới hạn xa hơn của chính mình, giống như tinh thần Faustian trong sách vậy.
Tôi bắt đầu khởi thảo bản dịch từ năm 2017, ban đầu dự định làm cùng một đồng nghiệp lớn tuổi đáng kính vốn là một dịch giả Đức ngữ kỳ cựu. Sau đó vì nhiều lý do, tôi tiếp tục một mình. Nhìn lại, tôi không nghĩ mình đã tính toán quá nhiều ngay từ đầu. Có những công việc chỉ có thể bắt đầu khi mình chưa hình dung hết được độ dài của nó. Và rồi, khi đã đi vào, mình cứ tiếp tục từng bước một, rồi đi tất thành đường, nhưng sau này khi nhìn lại, bản thân quá trình dịch cuốn sách ý nghĩa hơn cả thành phẩm trên tay.
Trong lời giới thiệu, anh kể về hành trình dịch bắt đầu từ năm 2017 và hoàn thành năm 2020, đồng thời song song với những chuyến đi châu Âu. Những trải nghiệm thực địa ấy đã ảnh hưởng như thế nào đến cách anh hiểu và truyền tải linh hồn của tác phẩm Spengler?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Có lẽ điều đặc biệt nhất trong hành trình dịch cuốn sách này là nó không diễn ra hoàn toàn trên bàn làm việc. Trong khoảng thời gian từ 2017 đến 2020, tôi có cơ hội đi qua nhiều thành phố châu Âu, và những trải nghiệm ấy dần dần thấm vào cách tôi đọc Spengler.
Tôi còn nhớ một buổi chiều ngồi dưới chân tượng Johann Wolfgang von Goethe ở Vienna, trong một trạng thái khá tĩnh lặng. Goethe, cùng với Friedrich Nietzsche, là hai nguồn cảm hứng lớn của Spengler, và trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như đang đứng trong chính cái mạch tư tưởng mà cuốn sách được sinh ra. Nói thêm một chút, Spengler kế thừa quan điểm tự nhiên sống (living nature / lebendige Natur) của Goethe, lấy Faust làm tên gọi cho hiện thân linh hồn văn hóa quan trọng nhất trong giai đoạn lịch sử châu Âu/phương Tây; còn Nietzsche, ông kế thừa tiếp nhận mô hình Apollonian và ý chí quyền lực (will to power / Der Wille zur Macht).
Ở Salzburg, khi bước vào căn nhà nơi Wolfgang Amadeus Mozart chào đời, tôi chợt nhớ đến một áng văn của Spengler nói về việc rồi sẽ đến lúc âm nhạc của Mozart vẫn còn đó, nhưng không còn ai có thể thực sự “nghe” được nó nữa. Khi ấy, tôi nhận ra rằng nghệ thuật không nằm ở vật thể, mà nằm ở khả năng cảm thụ của một cộng đồng văn hóa, và khi khả năng ấy biến mất, thế giới cũng đổi khác đi.
Những trải nghiệm mạnh nhất có lẽ là khi tôi ở Rome, Florence và Venice, đặc biệt là khi đứng dưới trần nhà nguyện Sistine của Michelangelo. Có một cảm giác rất khó gọi tên, vừa choáng ngợp, vừa trầm thống, như thể mình đang đứng trước một điều gì đó đã đạt đến đỉnh cao tuyệt đối, nhưng đồng thời cũng đã thuộc về quá khứ. Những khoảnh khắc ấy khiến cho khái niệm “linh hồn của một nền văn hóa” trong Spengler không còn là một ẩn dụ trừu tượng, mà trở thành một kinh nghiệm có thể cảm nhận được. Trước đây tiếp xúc nghệ thuật Phục hưng qua tranh ảnh, phương tiện truyền thông, ta chỉ thấy nó đẹp toàn bích, mực thước, hoàn mỹ, nhưng ta không hiểu được thứ triết thuyết gì đằng sau nó, hoặc một thứ gì đó thậm chí còn vượt qua cả chủ nghĩa nhân văn, một quan điểm thẩm mỹ, một đức tin vượt ra khỏi đêm trường Trung Cổ. Nhưng sau khi đọc Spengler, điểm nhìn của tôi với Phục hưng trải qua sự thay đổi lớn.
Và theo một cách nào đó, chính những trải nghiệm ấy đã nuôi dưỡng bản dịch, giúp tôi không chỉ chuyển ngữ văn bản, mà còn cố gắng nương theo dòng chảy tinh thần của nó.
![]() |
Dịch phẩm được thực hiện trong hơn ba năm của Phạm Minh Quân. Ảnh: NVCC |
Nhìn văn hóa qua chu kỳ sinh diệt
Spengler xem mỗi nền văn hóa như một sinh thể sống có vòng đời riêng với chu kỳ sinh – trưởng – cực thịnh – suy tàn, và coi phương Tây đang ở giai đoạn “hoàng hôn” với “linh hồn Faustian” luôn muốn vượt giới hạn. Anh nghĩ quan niệm này sẽ giúp độc giả Việt Nam nhìn nhận lịch sử và văn hóa đương đại của chính mình như thế nào?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Quan điểm coi văn hóa như một sinh thể có chu kỳ sinh - trụ - hoại - diệt, theo tác giả, phá vỡ mô hình phân kỳ lịch sử "cổ đại - trung đại - hiện đại" tuyến tính truyền thống đã kiệt cùng các khả thể. Ông nhìn nhận mỗi văn hóa đều có những mùa xuân hạ thu đông của nó, và ở mỗi giai đoạn tương đồng này, rất nhiều nền văn hóa dù khác nhau về thời gian lẫn khoảng cách không gian địa lý vẫn có những sự hội tụ kỳ lạ, ví dụ như Cổ Vương quốc Ai Cập, Hy Lạp thời Doric và Trung Âu thời Gothic, Caesar và Tần Thủy Hoàng, Alexander và Napoleon... Đây chính là một khả thể nghiên cứu liên văn hóa rất quan trọng, mà tôi gọi rằng đây là một phương pháp vượt qua cả tiếp cận lịch đại và đồng đại truyền thống, tức là "đồng đại xuyên lịch sử" hoặc gọi theo ngôn ngữ bây giờ là "đồng đại xuyên không" cũng được.
Và thậm chí, Spengler đưa ra những quan điểm phi truyền thống với cách thức nhận thông thường của chúng ta, khi coi văn minh song hành hoặc là sự phát triển đỉnh cao của văn hóa (có một giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc - thực dân được bào chữa bởi mục đích "khai hóa văn minh"), nhưng Spengler cho rằng chính sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật, kỹ trị, máy móc, tư duy cơ giới, sự tiện ích cuộc sống – những biểu hiện vật chất của văn minh chính là thứ đánh dấu sự suy vong của văn hóa.
Tôi nghĩ cách tiếp cận này có thể gợi mở cho độc giả Việt Nam một số câu hỏi về chính mình. Thay vì đặt trọng tâm vào việc đang ở giai đoạn nào của một tiến trình chung, có thể thử nhìn vào trạng thái bên trong của đời sống văn hóa. Một điều dễ nhận ra khi đọc Spengler là sự biến mất của khả năng cảm thụ đôi khi diễn ra âm thầm hơn sự mất mát vật chất. Một tác phẩm vẫn còn đó, nhưng cách hiểu nó có thể đã thay đổi hoặc phai nhạt đi.
![]() |
Nhà nghiên cứu, dịch giả Phạm Minh Quân hiện đang giảng dạy tại Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQGHN. Ảnh: NVCC |
Cuốn sách không chỉ là triết học mà còn bao quát lịch sử, nghệ thuật, âm nhạc, kiến trúc… Với tư cách là người đã dịch gần 1.500 trang, anh thấy Hoàng hôn Phương Tây đóng góp cụ thể gì cho độc giả Việt Nam trong việc hiểu về số phận các nền văn minh và về chính nền văn hóa của chúng ta?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Bản thân Spengler là một người theo chủ nghĩa bi quan lịch sử, và trong cuốn sách ông đưa ra những dự phóng về thế giới ngày nay. Đương nhiên chúng ta là những con người bất toàn, sống trong một giai đoạn thế giới bất định và biết động, và cũng giống Spengler hoài vọng về những "đỉnh cao muôn trượng" đã qua không bao giờ quay trở lại, chúng ta có thiên hướng hoài niệm về những gì tốt đẹp đã qua.
Tương tự với nỗi sợ văn minh của Spengler, ngày nay chúng ta có kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản giám sát, của chủ nghĩa tiêu dùng, của sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo – những đối cực của sự chân phương văn hóa. Nhưng khác biệt ở chỗ, thay vì tìm chọn hư vô chủ nghĩa, chúng ta sẽ tìm những giá trị tích cực hơn để neo giữ thứ ý nghĩa nội tại của tồn tại, để cho linh hồn chúng ta thứ thắp lên ngọn lửa bền bỉ của văn hóa sáng tạo sẽ không lụi tàn.
Và điều đáng nể nhất ở Spengler, công trình của ông, với vẻ ngoài là một công trình triết học lịch sử - văn hóa, dựa trên một lập thuyết tư biện mà theo Karl Popper với quan điểm phủ chứng đánh giá là "vô nghĩa", thì Spengler lại tạo ra một hệ thống, hay một thế giới lý thuyết khả dụng, chỉ ra một quy luật phổ quát cao độ. Sau khi đi hết bản thảo, điều tôi cảm nhận rõ là Spengler giúp kết nối nhiều lĩnh vực tưởng như tách rời. Ở những địa hạt tưởng như xa xôi nhau, như một bên là khoa học tự nhiên như toán học, vật lý, hóa học, một bên là khoa học xã hội và nhân văn, văn học, ngôn ngữ, sử học, tôn giáo và biểu tượng học và thậm chí là nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, lại tìm thấy có chung một mạch vận động.
Ví dụ người Apollonian với điêu khắc tạo hình đậm tính cơ thể, của số học tĩnh học; thì người Faustian với nhà thờ Gothic tháp đôi, âm nhạc đối âm, lại đại diện cho hàm số (tích phân), động lực học (dynamics)... đóng là thứ linh hồn tảng ẩn, một dòng chảy sự sống chi phối toàn bộ những biểu kiến văn hóa - nghệ thuật.
![]() |
Hoàng hôn Phương Tây không chỉ thu hút giới trí thức mà còn cả nhóm độc giả đại chúng. Ảnh: NVCC |
Lửa tri thức trong thời đại biến động
Trong tủ sách Văn hóa học mà anh đang góp phần xây dựng, Hoàng hôn Phương Tây đứng ở vị trí nào và mang lại giá trị khác biệt ra sao so với các tác phẩm trước?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Hoàng hôn Phương Tây là một công trình đồ sộ. Nếu Cành vàng hay Văn hóa nguyên thủy có thể coi là những bách khoa thư về thế giới hay tín ngưỡng nguyên thủy, thì từ một góc độ nào đó, Hoàng hôn Phương Tây là một bách khoa thư về tất định luận lịch sử và sự phát triển của văn hóa.
Mặt khác, Tủ sách Văn hóa học đã trải qua rất nhiều chặng, từ văn hóa học Nga, nhân học xã hội Anh, dân tộc học - xã hội học văn hóa Pháp, nhân học văn hóa Mỹ. Do đó, bộ sách Spengler cùng với công trình Những nguyên lý của lịch sử nghệ thuật của Heinrich Wölfflin tôi dịch trước đó mang đến một khía cạnh tiếp cận lịch sử nghệ thuật của những học giả Đức ngữ rất nặng tinh thần triết học. Nó đồng thời thể hiện sự vận động phát triển của người dịch lẫn tủ sách.
Đây đồng thời cũng là tinh thần của Tủ sách Văn hóa học kể từ khi ra đời, đó là chủ trương dịch thuật các tác phẩm kinh điển nước ngoài về nghiên cứu văn hóa ở nhiều chiều cạnh khác nhau và giới thiệu đến bạn đọc Việt Nam.
Từ góc nhìn của một dịch giả đã gắn bó nhiều năm với dòng sách văn hóa – triết học - nghệ thuật kinh điển, anh nhận định như thế nào về thị trường sách Việt Nam hiện nay trong việc lan tỏa tri thức? Và khi dịch những tác phẩm thuộc dòng sách “khó” như Spengler, anh thấy thách thức lớn nhất của thị trường và của chính người dịch nằm ở đâu?
NNC, dịch giả Phạm Minh Quân: Không ngoa khi nói đây là con đường độc đạo. Thị trường sách trong bối cảnh kinh tế ngày nay không hề "nhân từ" với dòng sách thị trường ngách, tạm như cách PV gọi là "kinh điển" và "tri thức sâu". Các đơn vị xuất bản và phát hành sách phải nghĩ tới câu chuyện hiệu quả kinh doanh, quay vòng vốn và tệp người đọc khả kiến. Sách khó dịch là một, lại kén người đọc và in số lượng ít là hai, nên nhuận dịch so với mặt bằng chung các dòng sách phổ thông không thể gọi là cao, nếu đong đếm dựa trên con chữ. Bản thân tôi rất nhiều lần có ý định phi thương mại hóa những bản dịch công phu, chấp nhận miễn là sách được ra mắt và tới tay bạn đọc.
Mặc dù thị trường sách Việt Nam hiện nay có thể không thiếu độc giả, song những cuốn sách như Spengler luôn đòi hỏi một kiểu đọc khác, chậm hơn, kiên nhẫn hơn, và chấp nhận đi vào những vùng không chắc chắn. Đây là điều không dễ trong một bối cảnh mà tốc độ tiếp nhận thông tin ngày càng nhanh và có sự trợ giúp của AI.
![]() |
Các tác phẩm gây tiếng vang của NNC, dịch giả Phạm Minh Quân. Ảnh: NVCC |
Dịch là một công việc đầy ải, tựa Sisyphus phải lăn tảng đá vĩnh cửu lên đồi hay Tinh Vệ lấp biển. Khổ hạnh còn nhiều hơn đối với những dịch giả chọn lối đi khó – dịch những trước tác nghiên cứu kinh điển của thế giới, đặc biệt là sách triết học. Tôi từng thấy rất nhiều đồng nghiệp tài năng, những người đam mê yêu triết và yêu dịch hơn tôi, đã dừng lại và chuyển đổi sang những con đường trải nhiều hoa hồng hơn. Cá nhân tôi thấy đây là một thiệt thòi rất lớn, bởi Việt Nam chúng ta chưa bao giờ hết cần những cánh cửa vươn tới tinh hoa tri thức thế giới. Nó đòi hỏi một sự chấp nhận nhất định, có thể là về thời gian, công sức, và cả những giới hạn khác. Nhưng nếu không có những nỗ lực như vậy, khoảng cách giữa chúng ta và các truyền thống học thuật lớn trên thế giới sẽ khó được thu hẹp.
Hơn nữa, với người dịch, khó khăn không chỉ nằm ở việc chuyển ngữ, mà ở việc chuyển tải một hệ hình tư duy. Spengler không viết theo lối lập luận tuyến tính, mà di chuyển giữa các lĩnh vực, giữa lịch sử, nghệ thuật, khoa học, triết học, đôi khi viết với một tinh thần dụng ngữ văn chương hơn là một công trình khoa học thuần túy. Việc giữ lại được nhịp điệu ấy, mà không làm mất đi tính khả đọc, là một thách thức rất lớn.
Dù vậy, tôi vẫn tin rằng những cuốn sách như thế luôn có người đọc của nó. Không phải số đông, nhưng là những người hiếu tri sẵn sàng đi cùng một văn bản trong một thời gian dài, để lần giở từng trang và thường trực muốn khám phá thêm những hiểu biết mới từ nó. Và ở một mức độ nào đó, chính họ là những người giữ cho dòng chảy tri thức không bị đứt gãy.
Phạm Minh Quân là một nhà nghiên cứu trẻ đầy triển vọng, hiện đang hoạt động tích cực trong các lĩnh vực nhân học văn hóa, lý luận – phê bình nghệ thuật và dịch thuật học thuật. Anh hiện đảm nhiệm vai trò Phó Viện trưởng Viện Nhân học Văn hóa đồng thời là Giảng viên tại Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (VNU-SIS), thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Sự nghiệp của Phạm Minh Quân ghi dấu ấn đậm nét qua các công trình nghiên cứu và dịch thuật có chiều sâu. Trong vai trò chủ biên và đồng tác giả, anh đã đóng góp cho kho tàng tư liệu văn hóa Việt Nam những tác phẩm quan trọng như Nhân học văn hóa ở Việt Nam - Diễn trình và nghiên cứu (2024) và Mỹ thuật & nghệ thuật ứng dụng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (2024).
Đặc biệt, Phạm Minh Quân còn được biết đến là một dịch giả uy tín, người bền bỉ chuyển ngữ và đưa những tác phẩm kinh điển của nhân loại đến gần hơn với độc giả Việt, tiêu biểu là các cuốn: Người chơi (Homo Ludens) của Johan Huizinga, Tư duy của người nguyên thủy của Franz Boas, Các mô thức văn hóa của Ruth Benedict, Xem tranh của Susan Woodford...



