Hơn nửa thế kỷ cùng những vành nón lá
Phóng viên (PV): Sau hơn nửa thế kỷ gắn bó với vành tre, lá cọ, điều gì về nghề nón khiến bác nhớ nhất?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Tính đến nay, tôi đã gắn bó với nghề truyền thống của quê hương tròn 52 năm. Trong suốt hành trình ấy, khoảnh khắc tôi nhớ nhất chính là những ngày đầu tiên được mẹ cầm tay chỉ việc. Mẹ tỉ mỉ dạy tôi từng đường kim mũi chỉ, không chỉ để chiếc nón làm ra được tròn, được đẹp hơn, mà mẹ còn dạy tôi về đạo đức làm người - đó là sự kiên trì và nhẫn nại. Bây giờ mỗi khi nhìn lại, hình ảnh người mẹ gầy gò, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn tỉ mẩn bên hiên nhà vẫn luôn là động lực đi theo tôi suốt cuộc đời làm nghề.
PV: Điều gì giữ chân bác lại với nghề lâu đến thế?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Với tôi, nghề làm nón này bình dị lắm, chẳng cao sang gì, nhưng chính nghề nón lại là “hậu phương” vô cùng vững chắc trong đời sống của nhân dân làng tôi. Ngày xưa, các bà, các mẹ đã đan nón, bán nón để chắt chiu nuôi chồng, nuôi con suốt những năm tháng kháng chiến. Ngày nay, những chiếc nón không chỉ che nắng che mưa mà còn là nét đẹp trang phục, nét đẹp văn hóa người Việt Nam. Và nếu không có tình yêu nghề, yêu nét đẹp văn hóa của quê hương, đất nước thì tôi đã không thể đi với nón lá một chặng đường dài đến thế. Làm nón với tôi giờ đây không còn là sinh kế nữa, mà là một hành trình gìn giữ văn hóa đầy ắp những kỷ niệm thiêng liêng.
PV: Trong hành trình hơn 50 năm ấy, đâu là những vinh quang và cột mốc đáng nhớ nhất đối với bác?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Hơn nửa thế kỷ làm nghề, thăng trầm có, vinh quang cũng nhiều. Vinh quang lớn nhất là khi những nỗ lực của tôi được ghi nhận với nhiều sản phẩm được công nhận OCOP 4 sao, nhiều giải thưởng lớn của thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Nhờ đó, tôi vinh dự được đi gặp Bộ trưởng, rồi được diện kiến Chủ tịch nước. Đáng nhớ nhất là lần tôi được Tổng cục Đường sắt mời lên chuyến tàu du lịch di sản 5 Cửa Ô để biểu diễn, giới thiệu nghề làm nón thủ công Việt Nam tới bạn bè quốc tế. Hay như dịp Tết vừa qua, tôi cũng rất xúc động khi được mời ra Công viên Thống Nhất để trình diễn kỹ thuật làm nón, quảng bá thương hiệu làng Chuông tại một sự kiện văn hóa lớn.
Nón lá giữa những đổi thay làng nghề
PV: Nhiều người nhìn chiếc nón lá thấy sự giản dị, mộc mạc. Vậy, phía sau sự giản dị ấy ẩn chứa điều gì?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Chiếc nón lá càng giản dị bao nhiêu thì lại càng tinh tế bấy nhiêu. Du khách nước ngoài khi sang đây, họ thấy người con gái Việt Nam mặc áo dài, đội chiếc nón lá thì đều trầm trồ vì sự dịu dàng. Họ bảo chiếc nón nhìn mỏng manh nhưng lại vô cùng bền chắc. Để làm ra một chiếc nón lá truyền thống hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua 6 công đoạn chính: Rẽ lá, bứt vòng, quay nón, thắt nón, nức nón và lồng nhôi. Còn nếu làm nón hiện đại cải tiến, chúng tôi sẽ phủ thêm một lớp vải ở trên là thành 7 công đoạn. Trong mỗi công đoạn chính ấy lại chia ra hàng chục công đoạn phụ đòi hỏi sự tỉ mỉ tuyệt đối. Chính vì thế dù có vẻ ngoài mộc mạc, mỗi chiếc nón lại ẩn chứa những câu chuyện, những giá trị văn hóa, tinh thần khác nhau.
PV: Đồng hành cùng chiếc nón qua nhiều giai đoạn, bác thấy nghề làm nón hôm nay đã thay đổi như thế nào so với ngày xưa?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Thay đổi nhiều chứ, có thể nói là thay đổi hoàn toàn để thích nghi. Bây giờ thời thế khác rồi, ví dụ như những chiếc rổ, chiếc giá bằng tre nứa ngày xưa giờ hầu như bị thay thế bằng đồ nhựa. May mắn là nghề nón vẫn giữ được chỗ đứng nhờ tà áo dài truyền thống. Tuy nhiên, thị hiếu ngày nay là phải “ăn ngon, mặc đẹp, đội đẹp”. Vì vậy, tôi đã chủ động thiết kế ra nhiều mẫu mã mới để kịp xu hướng thị trường. Khách thích kiểu dáng nào, mình sẵn sàng sáng tạo kiểu dáng đó để nâng cao giá trị sản phẩm.
Bên trong chiếc nón vẫn giữ cốt cách tre lá truyền thống, nét đẹp văn hóa của người Việt, nhưng bên ngoài có thể phủ thêm lớp vải lụa hiện đại. Trên lớp vải ấy, nghệ nhân có thể thêu vẽ phong cảnh quê hương đất nước, hoa sen, hoặc thậm chí là chân dung Bác Hồ theo yêu cầu của khách hàng.
![]() |
Những mẫu nón lá kết hợp giữa nét truyền thống và hơi thở hiện đại do nghệ nhân Lê Văn Tuy thực hiện. |
PV: Đi qua những đổi thay ấy, điều gì khiến bác đau đáu nhất?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Với tôi, niềm vui gắn liền với vinh quang, nhưng nỗi buồn thì luôn đau đáu cùng sự mai một của các làng nghề truyền thống trước tốc độ đô thị hóa. Cái khó lớn nhất hiện nay của làng Chuông là khâu làm du lịch vẫn chưa được quảng bá rộng rãi. Tôi luôn trăn trở, nếu có thể kết hợp chặt chẽ du lịch làng nghề với quảng bá văn hóa, có sự chung tay của các Sở du lịch và các đơn vị lữ hành để xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm bài bản, khách đến tham quan sẽ đông hơn. Khi đó, không chỉ những người trực tiếp làm nghề có thu nhập, toàn thể bà con làng Chuông cũng sẽ khấm khá hơn từ các dịch vụ mà nghề truyền thống sẽ càng được biết đến rộng rãi hơn, tồn tại lâu hơn với dòng chảy của thời đại.
Hành trình lan tỏa văn hóa Việt
PV: Mỗi lần mang chiếc nón lá làng Chuông đi tham gia các sự kiện văn hóa lớn, điều gì khiến bác cảm thấy xúc động nhất?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Xúc động nhất là khi thấy sản phẩm của quê hương mình được nâng niu. Như lần tôi mang nón lá đi giới thiệu tại sự kiện quốc tế lớn, không chỉ du khách trong nước mà bạn bè quốc tế đổ về xem rất đông. Họ tự tay cầm chiếc nón, ngắm nghía trân trọng. Lúc đó, tôi cảm thấy chiếc nón như một “đứa con tinh thần” của mình được xã hội đón nhận. Khi họ tò mò hỏi về quy trình làm nón, tôi lại say sưa kể câu chuyện lịch sử của từng chiếc một. Họ thích thú lắng nghe và càng thêm trân trọng đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
PV: Nhận được rất nhiều danh hiệu và sự kính trọng như vậy, những phần thưởng đó có ý nghĩa thế nào đối với một người nghệ nhân như bác?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Mình cứ hết lòng với nghề thì nghề không bao giờ phụ mình. Kỷ niệm đợt gặp Chủ tịch nước vừa rồi làm tôi nhớ mãi, Chủ tịch nước có nói một câu rất hay rằng không có nghề nào là nghề thấp kém, chỉ có con người không yêu nghề mà thôi, nếu đã thực sự yêu nghề thì làm nghề gì cũng sẽ thành công. Nhờ tình yêu nghề nón, tôi đã đạt được nhiều danh hiệu đáng quý và hành trình lan tỏa vẻ đẹp nón lá Việt càng trở nên ý nghĩa hơn. Những danh hiệu ấy chính là sự bảo chứng, là niềm tự hào lớn lao để tôi tiếp tục cống hiến, hết mình vì nét văn hóa đẹp của đất nước.
PV: Thời gian gần đây, có một số bạn trẻ đã bắt đầu mở các buổi workshop làm nón ngay tại làng Chuông để thu hút du khách. Bác cảm nhận thế nào về cách làm này của thế hệ trẻ hôm nay?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Tôi rất ủng hộ! Tôi thấy các bạn trẻ bây giờ rất giỏi, nhạy bén với công nghệ, biết đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội. Biết bạn trẻ nào mở workshop là tôi đều đến động viên, hỗ trợ. Tôi sẵn sàng bán nguyên liệu cho các bạn với giá rẻ hơn, thậm chí trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt lại các câu chuyện văn hóa phía sau chiếc nón để các bạn có "chất liệu" kể lại cho du khách nghe.
Chiếc nón ngày xưa tuy tốt nhưng đóng gói đơn giản quá. Bây giờ các bạn trẻ biết thiết kế thêm bao bì bọc ngoài rất tinh tế, bắt mắt. Khách trong nước hay quốc tế nhìn vào thấy đẹp, thấy chuyên nghiệp thì họ cũng có thiện cảm và muốn tìm hiểu sản phẩm nhiều hơn. Sự sáng tạo của người trẻ chính là tương lai của làng nghề.
PV: Từ sự sáng tạo ấy của người trẻ hôm nay, bác có kỳ vọng như thế nào vào sự tiếp nối của thế hệ con cháu đối với nghề nón làng Chuông sau này?
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: Đó là mong muốn lớn nhất và cũng là tâm nguyện cả đời của tôi. Ở làng Chuông, mỗi khi các trường cấp 1, cấp 2 tổ chức những buổi ngoại khóa để chia sẻ về văn hóa truyền thống cho học sinh, tôi đều chủ động tham gia. Các cháu nhỏ bây giờ hứng thú với nghề truyền thống lắm.
Không chỉ dạy cho trẻ nhỏ, vừa rồi bên huyện Chương Mỹ lân cận cũng mời tôi sang hướng dẫn và nâng cao tay nghề cho bà con nông dân. Lúc ấy có cả các Phó giáo sư, Tiến sĩ đi cùng đoàn, họ khen ngợi làm tôi ngại quá. Tôi chỉ cười bảo chúng tôi cũng chỉ là những người nông dân, là nghệ nhân giản dị như bà con thôi. Có điều chúng tôi may mắn được gắn bó lâu năm, tâm huyết và hiểu cái nghề này hơn một chút nên muốn lan tỏa tới mọi người. Tôi vẫn luôn nói với các cháu rằng, giữ nghề nón là giữ một phần hồn quê. Tôi chỉ mong thế hệ trẻ sẽ tiếp tục yêu và gìn giữ nghề để chiếc nón làng Chuông còn mãi với mai sau.
![]() |
Nghệ nhân Lê Văn Tuy cùng các bạn trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm làm nón lá tại làng Chuông |
PV: Xin cảm ơn những chia sẻ vô cùng ý nghĩa và xúc động của bác.
Làng Chuông là một trong những làng nghề làm nón lá lâu đời của miền Bắc với lịch sử hơn 300 năm tuổi. Sản phẩm nón làng Chuông đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao của thành phố Hà Nội, góp phần quảng bá nghề nón truyền thống tới thị trường trong nước và quốc tế.

