Chủ động lựa chọn, kết hợp các phương pháp giảng dạy
Giáo sư – Tiến sĩ Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: Trong quá trình xây dựng khung năng lực AI cho học sinh, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã khảo sát hơn 11.000 em tại các tỉnh, thành phố vào đầu năm 2024. Kết quả cho thấy, 87% học sinh đã biết về sử dụng AI trong giáo dục, tuy nhiên, khó khăn chính là thiếu kiến thức và kỹ năng; thiếu trang thiết bị, công nghệ và thiếu sự hướng dẫn từ giáo viên.
Một khảo sát khác được thực hiện đầu năm 2025 với gần 35.000 giáo viên phổ thông cho thấy, 76% từng sử dụng AI trong lớp học. Dù gần 70% đánh giá tích cực, các thầy cô vẫn lo ngại về độ chính xác của AI, quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu, nguy cơ giảm tương tác giữa người với người.
Những dữ liệu này cho thấy tính cấp thiết của việc triển khai AI trong nhà trường. Học sinh cần được giáo dục về AI càng sớm càng tốt để biết cách sử dụng hiệu quả.
Trong tháng 2/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đợt tập huấn đầu tiên về thí điểm giáo dục AI trong nhà trường. Ba phương án giảng dạy được áp dụng gồm: dạy tích hợp AI vào môn học; dạy một số chủ đề độc lập; tổ chức các hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ. Kết quả thí điểm sẽ là căn cứ để nhân rộng giáo dục AI trong trường phổ thông (từ lớp 1 đến lớp 12).
Khung nội dung chương trình giáo dục AI cho học sinh được phát triển dựa trên 4 mạch kiến thức chính: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, các kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI.
Ba cấp độ nội dung được chia tương ứng với các cấp học. Trong đó, bậc Tiểu học là cấp độ 1 (Làm quen), giúp học sinh hiểu khái niệm cơ bản. Cấp độ 2 (Nền tảng) dành cho bậc Trung học Cơ sở nhằm phát triển năng lực nền tảng về đạo đức AI, kỹ thuật, ứng dụng và bước đầu phân tích những tác động tới xã hội của chúng. Cấp độ cao nhất (Kiến tạo) ở bậc Trung học Phổ thông giúp học sinh tự tin dùng AI, hiểu một số nguyên lý cơ bản và thiết kế, điều chỉnh công cụ AI đơn giản, đồng thời có khả năng phản biện sâu về các vấn đề xã hội, quyền con người và trách nhiệm của công dân.
Là địa phương có số lượng học sinh phổ thông đông tốp đầu cả nước, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh xác định việc thí điểm đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào trường phổ thông là bước đi chiến lược, góp phần hình thành năng lực số, tư duy logic và khả năng tự học.
Mới đây, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện thí điểm dạy trí tuệ nhân tạo (AI) cho học sinh phổ thông, từ học kỳ II năm học 2025 – 2026. Theo đó, bốn trường Trung học Phổ thông chuyên; các trường tiên tiến, hội nhập; trường học số sẽ thực hiện thí điểm trước. Các trường còn lại sẽ thực hiện tùy thuộc vào điều kiện của từng trường.
Các cơ sở giáo dục được chủ động lựa chọn, kết hợp nhiều hình thức triển khai. Trong đó, lồng ghép nội dung AI vào các môn học, đặc biệt là môn Tin học được xác định là hình thức ưu tiên nhằm bảo đảm tính phổ cập. AI cũng được sử dụng như một công cụ hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học khác.
Đối với những trường đủ điều kiện về đội ngũ giáo viên, có thể xây dựng các chuyên đề học tập lựa chọn hoặc mô-đun độc lập; đồng thời, tăng cường hoạt động câu lạc bộ, ngoại khóa và phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp để đa dạng hóa học liệu, mở rộng trải nghiệm thực tiễn cho học sinh.
Không tạo thành môn học mới nặng về lý thuyết
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành, Trưởng khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Việc đưa AI vào trường học từ sớm là cần thiết để trang bị năng lực số cốt lõi cho học sinh. Đặc biệt là thế hệ Z, những "công dân bản địa số" cần được trang bị kiến thức để trở thành người tiêu dùng công nghệ thông thái, tránh sử dụng công nghệ một cách bị động hoặc không đúng cách. Khi triển khai khung năng lực AI, nội dung phải có sự cá biệt hóa, cá nhân hóa sâu sắc theo từng độ tuổi. Cần tránh tạo thành một môn học mới nặng về lý thuyết.
Theo Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành, AI có thể được triển khai theo nhiều hình thức như: tích hợp trong các môn học, qua các câu lạc bộ, chủ đề và cần chú ý đến tính xã hội hóa của nhà trường.
Để tránh quá tải, cần tận dụng chính AI để giảm tải công việc hành chính của giáo viên. Họ có thể sử dụng AI trong công tác chuyên môn như: kiểm tra đánh giá, thiết kế bài dạy, thiết kế học liệu. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần tận dụng AI trong công việc hành chính như: nhận xét học sinh, giao tiếp với phụ huynh, làm việc với đối tác xã hội… Để làm được điều này, thầy cô phải được đào tạo, tập huấn về việc sử dụng AI một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, nên thiết kế các hệ thống bài tập thích ứng để học sinh tự xem video và tự đánh giá mức độ hiểu biết của mình. Khi lên lớp, giáo viên chỉ cần chốt lại kiến thức hoặc cho học sinh thảo luận, giúp hình thức học không bị nặng nề. Việc thiết kế hệ thống bài tập này cần phù hợp với lứa tuổi học sinh.
Tiến sĩ Ngô Thanh Xuân, Hiệu trưởng Trường Trung học Phổ thông chuyên Lào Cai (tỉnh Lào Cai) chia sẻ: Việc đưa các nội dung về trí tuệ nhân tạo vào chương trình phổ thông là hoàn toàn phù hợp và mang tính tất yếu trong bối cảnh hiện nay.
Ở cấp Trung học Phổ thông (giai đoạn định hướng nghề nghiệp), học sinh được khuyến khích khám phá, thiết kế và cải tiến các ứng dụng AI đơn giản thông qua các dự án khoa học. Chương trình tập trung vào việc phát triển tư duy giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo và làm chủ công cụ AI, giúp học sinh vận dụng AI để tạo ra các sản phẩm phục vụ cộng đồng và định hướng nghề nghiệp tương lai.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa tại các trường chuyên, nơi học sinh sở hữu năng lực tư duy logic, sáng tạo và định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Khi được tiếp cận AI thông qua mô hình dự án khoa học, các em không chỉ học ở mức độ khái niệm mà còn trực tiếp bước vào quá trình kiến tạo, từ phát hiện vấn đề, xây dựng dữ liệu đến thiết kế và thử nghiệm mô hình.
Cách tiếp cận này mở ra một không gian học tập liên môn đúng nghĩa, nơi kiến thức các môn Toán, Tin học, Sinh học, Địa lý hay thậm chí Ngữ văn được kết nối trong cùng một nhiệm vụ. Thông qua quá trình đó, học sinh phát triển năng lực thiết kế hệ thống, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề một cách tuần tự - những năng lực cốt lõi của người học trong kỷ nguyên AI.
Thông qua các dự án khoa học gắn với đời sống, học sinh cũng hiểu được rằng, AI không chỉ là công nghệ mà còn là trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với dữ liệu, cộng đồng, với tính minh bạch và những tác động mà sản phẩm của mình tạo ra. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành lớp học sinh có nhận thức đầy đủ về công nghệ và biết ứng dụng AI một cách nhân văn, bền vững trong tương lai.