Từ sáng kiến của Việt Nam đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) - Việc Việt Nam khởi xướng Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững giai đoạn 2027–2036 không phải là một động thái mang tính biểu tượng. Trong bối cảnh các khủng hoảng toàn cầu đan xen và kéo dài, buộc các quốc gia phải xem xét lại những nền tảng điều tiết phát triển, văn hóa ngày càng bộc lộ vai trò vượt ra ngoài bảo tồn hay biểu đạt bản sắc, trở thành yếu tố góp phần củng cố gắn kết xã hội và nâng cao khả năng chống chịu.
Chuỗi sự kiện văn hóa dày đặc trong năm 2025 cho thấy rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy văn hóa vì phát triển bền vững. Ảnh: UNESCO
Chuỗi sự kiện văn hóa dày đặc trong năm 2025 cho thấy rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy văn hóa vì phát triển bền vững. Ảnh: UNESCO

Với thực tiễn trên, sáng kiến của Việt Nam đã được UNESCO thông qua và đang trình lên Liên hợp quốc, đặt ra những yêu cầu mới về chiều sâu tư duy cũng như mức độ cam kết đối với phát triển bền vững.

Văn hóa như trụ cột phát triển

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội, chia sẻ rằng bản thân ý tưởng về một thập niên văn hóa từng được UNESCO triển khai trong quá khứ. Trong đó, Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa giai đoạn 1988–1997 là một dấu mốc quan trọng, góp phần đưa văn hóa từ vị trí thứ yếu trở thành mối quan tâm toàn cầu. Từ nền tảng đó, hàng loạt công ước, hội nghị và tuyên bố của các nhà lãnh đạo tại nhiều quốc gia trên thế giới về văn hóa đã ra đời, mang đến những chuyển biến đáng kể trong nhận thức của công chúng, cũng như khuôn khổ chính sách và việc phân bổ nguồn lực đầu tư.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là nhắc lại những thành quả đã có, mà quan trọng hơn là trả lời câu hỏi văn hóa cần đóng vai trò gì trong một thế giới đầy bất ổn, khi văn hóa không thể tiếp tục đứng bên lề phát triển. Ngược lại, cần nhìn nhận văn hóa như một kênh điều tiết quan trọng, góp phần thúc đẩy hòa bình, sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các quốc gia, đúng với tinh thần nền tảng mà UNESCO theo đuổi.

Từ sáng kiến của Việt Nam đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững ảnh 1

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn cùng Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO. Ảnh: Bộ Ngoại giao

Cách nhìn trên cũng được PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam, phân tích và làm rõ hơn ở cấp độ chính sách. Theo bà, điểm đột phá cốt lõi của sáng kiến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững không nằm ở tên gọi hay thời hạn mười năm, mà ở việc đặt văn hóa vào vị trí trung tâm hơn trong tư duy phát triển.

Cụ thể, thay vì được xem như yếu tố hỗ trợ hay một nền tảng trừu tượng, văn hóa trong sáng kiến của Việt Nam được định vị như một trụ cột có cam kết rõ ràng ở tầm quốc tế, gắn trực tiếp với phát triển bền vững và năng lực chống chịu của xã hội trước các khủng hoảng.

Tuy UNESCO đã xây dựng nhiều khung chính sách quan trọng về văn hóa, song theo PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, sáng kiến lần này tạo ra khác biệt căn bản ở chỗ nó cung cấp một khung thời gian đủ dài để các quốc gia từng bước điều chỉnh chính sách, huy động nguồn lực, tăng cường hợp tác và lan tỏa các thực hành tốt.

Đây là bước chuyển quan trọng từ định hướng sang hành động, từ tuyên bố sang xây dựng năng lực thực thi ở quy mô toàn cầu. Chính sự chuyển dịch này đã tạo nên sức thuyết phục của sáng kiến, thể hiện qua việc Nghị quyết được thông qua với sự đồng bảo trợ của 71 quốc gia, đồng thời cũng phản ánh nhu cầu chung của cộng đồng quốc tế trong giai đoạn phát triển hiện nay.

Tham chiếu dựa trên chính sách và thực tiễn

Bên cạnh đó, điểm then chốt khiến sáng kiến của Việt Nam nhận được sự quan tâm rộng rãi ở chỗ chúng ta không dừng lại ở việc đề xuất một khung tư duy mang tính nguyên tắc, mà còn có khả năng chứng minh tính khả thi của nó bằng chính quá trình phát triển trong nước.

Chia sẻ với Ngày Nay, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nhận định: “Việt Nam là trường hợp phù hợp để đề xuất và triển khai một thập kỷ về văn hóa, bởi chúng ta là quốc gia đã đầu tư một cách bền bỉ và có hệ thống cho lĩnh vực văn hóa, cả ở cấp độ thể chế lẫn phân bổ nguồn lực”.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước hình thành một hệ sinh thái pháp lý tương đối đầy đủ cho phát triển văn hóa. Các đạo luật như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Bản quyền tác giả không chỉ đóng vai trò điều chỉnh hoạt động, mà còn thể hiện tư duy định hướng và mở đường cho các lĩnh vực sáng tạo.

Từ sáng kiến của Việt Nam đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững ảnh 2

Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa và Phát triển bền vững (MONDIACULT 2025) do UNESCO chủ trì tại Tây Ban Nha. Ảnh: Bộ VH,TT&DL

Ở nhiều điều khoản, các bộ luật này sớm tiếp cận những chuẩn mực tiến bộ của quốc tế, đặc biệt trong bảo vệ di sản, quyền tác giả và thúc đẩy sáng tạo, qua đó tạo ra một nền tảng pháp lý đủ linh hoạt để thích ứng với biến đổi của đời sống văn hóa đương đại. Chính sự kết hợp giữa tính bảo tồn và tính mở này khiến kinh nghiệm lập pháp của Việt Nam trở thành một điểm tham chiếu mà nhiều quốc gia đang phát triển có thể quan tâm khi điều chỉnh chính sách của mình.

Từ góc nhìn quốc tế, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng chính bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn đa khủng hoảng là yếu tố then chốt giúp Việt Nam thuyết phục UNESCO và các quốc gia đồng bảo trợ.

“Khi xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng, phân cực xã hội và rủi ro công nghệ cùng gia tăng, những mô hình phát triển thiên về chỉ số kinh tế ngày càng bộc lộ giới hạn. Sự thiếu hụt các yếu tố gắn kết xã hội, chiều sâu văn hóa và bản sắc cộng đồng khiến nhiều xã hội dễ tổn thương trước khủng hoảng kéo dài. Trong bối cảnh đó, việc tái khẳng định vai trò của văn hóa như nền tảng kiến tạo bản sắc, nguồn lực cho đổi mới và cơ chế điều tiết xã hội không còn là lựa chọn mang tính lý tưởng, mà trở thành nhu cầu chung của cộng đồng quốc tế”, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương cho biết.

Theo đó, với kinh nghiệm thực tiễn, Việt Nam có thể chia sẻ với các quốc gia đang phát triển ba nhóm tiếp cận chính. Trước hết là gắn bảo tồn di sản với phát huy di sản gắn với sinh kế và phát triển cộng đồng, trong đó cộng đồng được coi là chủ thể trung tâm và di sản được chuyển hóa thành nguồn lực thông qua du lịch có trách nhiệm, nghề thủ công, thiết kế sáng tạo và các sản phẩm văn hóa địa phương.

Tiếp đến là kết nối văn hóa với công nghiệp sáng tạo và đổi mới, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực đa kỹ năng và khuyến khích doanh nghiệp văn hóa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Cuối cùng là thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, với Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, doanh nghiệp tổ chức và vận hành thị trường, còn cộng đồng bảo đảm giá trị cốt lõi và sự đa dạng văn hóa. Chính sự kết hợp này giúp văn hóa không chỉ được bảo vệ, mà còn được kích hoạt như một động lực thực chất cho phát triển bền vững.

Kỳ vọng những thay đổi thực chất

Dù nhận được sự đồng thuận cao, Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững của Việt Nam cũng đặt ra những thách thức không nhỏ, trong đó cốt lõi là nguy cơ các cam kết quốc tế chỉ dừng lại ở tầng diễn ngôn.

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, bài toán khó nhất không nằm ở việc đạt được sự ủng hộ về mặt nguyên tắc, mà ở khả năng chuyển hóa những tuyên bố chung thành thay đổi cụ thể trong chính sách, phân bổ nguồn lực và thực tiễn quản lý văn hóa ở từng quốc gia. Đây cũng là điểm mà Việt Nam đặc biệt lưu ý ngay từ khâu đề xuất, khi nhấn mạnh yêu cầu về tính khả thi và khả theo dõi, tránh lặp lại tình trạng các sáng kiến quốc tế trước đây thiếu công cụ thực hiện và đánh giá.

Trên cơ sở kinh nghiệm trong nước, Việt Nam khuyến khích các quốc gia lồng ghép văn hóa một cách thực chất vào chiến lược phát triển. Điều này bao gồm việc từng bước gia tăng đầu tư cho văn hóa, coi trọng phát triển nguồn nhân lực sáng tạo và xây dựng các công cụ theo dõi tiến bộ phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia.

Từ sáng kiến của Việt Nam đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững ảnh 3
PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương phát biểu tại Diễn đàn Sáng tạo châu Á. Ảnh: Vicas

Một rào cản mang tính cấu trúc khác được bà Nguyễn Thị Thu Phương chỉ ra là cách văn hóa vẫn thường bị đánh giá thấp trong tư duy phát triển do khó đo lường. Trong thời gian dài, văn hóa được thừa nhận là nền tảng tinh thần, nhưng các đóng góp cụ thể cho tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo lại chưa được phản ánh đầy đủ trong hệ thống chỉ số.

Ngay cả những giá trị có thể lượng hóa như đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP hay tạo việc làm cũng thường bị phân tán trong các thống kê ngành, khiến văn hóa khó có tiếng nói đủ trọng lượng trong quá trình hoạch định chính sách và phân bổ ngân sách. Việc thiếu hệ thống dữ liệu đồng bộ, công cụ theo dõi và cơ chế phối hợp liên ngành càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.

Nhìn về mốc năm 2036, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương kỳ vọng Thập kỷ sẽ tạo ra một chuyển biến căn bản trong tư duy xã hội Việt Nam, coi văn hóa như một dạng hạ tầng mềm của phát triển, tương tự như hạ tầng giao thông hay hạ tầng số. Điều này đòi hỏi đầu tư có kế hoạch, tầm nhìn dài hạn và gắn chặt với hiệu quả xã hội bền vững, thay vì những dự án ngắn hạn mang tính phong trào.

Chuỗi sự kiện văn hóa dày đặc trong năm 2025 cho thấy rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy văn hóa vì phát triển bền vững. Ảnh: UNESCO
Từ sáng kiến của Việt Nam đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững
(Ngày Nay) - Việc Việt Nam khởi xướng Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững giai đoạn 2027–2036 không phải là một động thái mang tính biểu tượng. Trong bối cảnh các khủng hoảng toàn cầu đan xen và kéo dài, buộc các quốc gia phải xem xét lại những nền tảng điều tiết phát triển, văn hóa ngày càng bộc lộ vai trò vượt ra ngoài bảo tồn hay biểu đạt bản sắc, trở thành yếu tố góp phần củng cố gắn kết xã hội và nâng cao khả năng chống chịu.
Thủ tướng Phạm Minh Chính kết luận phiên họp. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Bảo vệ an ninh mạng là yêu cầu cấp bách, thường xuyên, trọng yếu
(Ngày Nay) - Sáng 21/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo An ninh mạng quốc gia (Ban Chỉ đạo) chủ trì Phiên họp thứ I năm 2026 của Ban Chỉ đạo để đánh giá tình hình, kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo; đưa ra các phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới nhằm đảm bảo an ninh mạng quốc gia, bảo vệ an toàn các hoạt động của cơ quan Nhà nước và nhân dân.
Không khí lạnh yếu gây mưa rải rác ở vùng núi
Không khí lạnh yếu gây mưa rải rác ở vùng núi
(Ngày Nay) - Ngày 21/3, theo dự báo, khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ duy trì trạng thái thời tiết tương đối ổn định với mưa vài nơi, sáng sớm xuất hiện sương mù và sương mù nhẹ rải rác, ảnh hưởng đến tầm nhìn giao thông trong khung giờ đầu ngày.
Đại học Quốc gia Hà Nội công bố Quy chế tuyển sinh đại học mới
Đại học Quốc gia Hà Nội công bố Quy chế tuyển sinh đại học mới
(Ngày Nay) - Ngày 20/3, Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành Quy chế tuyển sinh đại học, áp dụng cho các chương trình đào tạo trình độ đại học trong toàn hệ thống từ năm 2026, nhằm hoàn thiện cơ chế tuyển sinh theo hướng đồng bộ, minh bạch và nâng cao chất lượng đầu vào.
Internet ở Nga được đẩy mạnh kiểm soát
Internet ở Nga được đẩy mạnh kiểm soát
(Ngày Nay) - Nga đang đẩy mạnh kiểm soát Internet trên diện rộng, từ gây nhiễu mạng, chặn VPN đến siết các ứng dụng nhắn tin, trong nỗ lực củng cố an ninh và kiểm soát xã hội giữa bối cảnh chiến sự kéo dài.