Triển vọng tăng trưởng bền vững kinh tế từ giá trị văn hoá
Công nghiệp văn hoá là lĩnh vực kết hợp giữa kinh tế và văn hoá, dùng để chỉ các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và thương mại hoá các sản phẩm, dịch vụ mang bản chất văn hoá, dựa trên nguồn vốn văn hoá và trí tuệ, được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ.
Tháng 7/2025, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam đã chính thức ra mắt công chúng với sứ mệnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường văn hoá, góp phần định vị hình ảnh văn hoá Việt Nam trên trường quốc tế. Việc thành lập Hiệp hội đã khẳng định vai trò của văn hoá như một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo đà để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo.
![]() |
| Nguồn số liệu: Cục Thống Kê Việt Nam |
Theo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, trong giai đoạn 5 năm vừa qua (2021 - 2025), giá trị sản xuất bình quân hàng năm của các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam ước đạt khoảng 1,059 triệu tỷ đồng (tương đương 44 tỷ USD). Trong cơ cấu nền kinh tế nước ta, con số này đã phản ánh rõ nét quy mô, mức độ đóng góp và triển vọng của nhóm ngành này đối với tăng trưởng chung.
Với mục tiêu thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định số 2486/QĐ-TTg duyệt phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Theo Báo cáo Tình hình Kinh tế Xã hội 2025 của Tổng Cục Thống kê, Trong năm 2025, khu vực Dịch vụ là động lực chính, đóng góp 51.08% vào mức tăng trưởng 8.02% chung, với tỷ trọng 42.75% GDP. Khu vực Công nghiệp và Xây dựng đóng góp 43.62%. Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản có tỷ trọng 11.64% GDP, đóng góp 5.30% vào tăng trưởng. Với tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 10%/năm, ngành này được kỳ vọng trở thành một động lực tăng trưởng mạnh mẽ mới, tương tự công nghiệp chế biến chế tạo nhưng dựa trên nền tảng sáng tạo và giá trị văn hóa.
![]() |
| Ngành Dịch vụ chiếm 42.36% cơ cấu kinh tế và GDP tăng trưởng - Nền tảng vững chắc để đẩy mạnh Công nghiệp Văn hóa Việt Nam |
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng đề cập đến việc phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa đang dần trở thành cầu nối đáp ứng đời sống của nhân dân.
Áp lực thương mại và nguy cơ “rập khuôn” hóa giá trị văn hoá
Trong bối cảnh hiện tại, sự vươn lên mạnh mẽ của công nghiệp văn hoá đã góp phần tạo đà tăng trưởng đáng kể, trở thành trụ cột kinh tế vững chắc cho Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên, thách thức lớn đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp không chỉ là tối ưu hóa lợi nhuận, mà là giải quyết bài toán đẩy mạnh công nghiệp văn hóa nhưng không “công nghiệp hóa” bản sắc dân tộc.
Trên thực tế, việc chuyển đổi di sản thành sản phẩm công nghiệp văn hoá có thể rơi vào bẫy “bề nổi”. Trong những năm gần đây, ngành du lịch nước ta ghi nhận nhiều điểm sáng nổi bật về số lượng khách tham quan, doanh thu và các mô hình du lịch sáng tạo. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những hạn chế vẫn còn hiện hữu rõ nét.
Trên Diễn đàn Doanh nghiệp, PGS. TS Bùi Hoài Sơn, Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội cho biết cách thức tiếp cận phát triển bền vững du lịch văn hoá tại Việt Nam còn nặng về sao chép mô hình, chạy theo các trào lưu du lịch ngắn hạn. Điều này đã khiến nhiều địa phương bỏ quên những giá trị độc bản của văn hoá quê hương để tạo nên sản phẩm văn hoá - du lịch mang hồn cốt thật sự.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của du lịch trong công nghiệp văn hoá, một số địa phương đã tận dụng văn hoá địa phương và chú trọng đầu tư lớn vào hạ tầng du lịch. Thế nhưng, không ít địa phương lại bỏ qua quá trình nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu bản chất thực sự của văn hoá một cách nghiêm túc và dài hạn.
Điều này đã dẫn đến hiện tượng “sân khấu hoá” các lễ hội truyền thống. Du lịch cộng đồng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rập khuôn theo các “kịch bản mẫu”. Yếu tố cốt lõi tạo nên linh hồn của văn hoá Việt là văn hoá bản địa dường như đã bị lãng quên, hoặc được nhìn nhận như yếu tố trang trí, bị khai thác một cách hời hợt, thiếu chiều sâu và tính chân thực.
Có thể nói tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh một mặt đem đến nhiều ưu thế cho sự phát triển vượt bậc của công nghiệp văn hoá. Thế nhưng ở khía cạnh khác, xu hướng này đã làm cho một số loại hình nghệ thuật truyền thống dần biến chất. Điển hình là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Di sản văn hoá phi vật thể nhân loại được UNESCO ghi danh đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc kết hợp hài hoà giữa thương mại hoá văn hoá và giữ hồn bản sắc dân tộc.
Đời sống sinh hoạt hiện đại đã nhanh chóng làm thay đổi nhận thức của bộ phận đồng bào khu vực Tây Nguyên nói riêng và người Việt nói chung về tính thiêng và giá trị cộng đồng của văn hóa cồng chiêng. Đặc biệt, loại hình di sản văn hoá này đang bị lạm dụng cho mục đích thương mại khi những “lễ hội”, câu lạc bộ mượn lớp văn hoá bản địa để trình diễn, phục vụ mục đích thương mại, thu hút khách du lịch.
Hiện tượng “sân khấu hoá” dường như không còn quá xa lạ với nghệ thuật truyền thống. Tại một số hội diễn, hội thi, các đội, đoàn cồng chiêng được triệu tập, biểu diễn trên sân khấu theo một kịch bản nhất định để đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá của du khách. Tuy nhiên, sân khấu hoá lại không phải là môi trường thích hợp đối với cồng chiêng dân gian. Bởi lẽ, linh hồn của cồng chiêng nằm ở tính gắn kết cộng đồng và không gian tâm linh đại ngàn, nơi tiếng chiêng hòa quyện cùng tiếng gió, tiếng lửa và hơi thở của đất trời.
![]() |
| Di sản văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên trước sức ép thương mại hoá. (Nguồn: hoidisanvanhoa.vn) |
Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, các nhóm ngành tiêu biểu trong công nghiệp văn hóa vẫn đang loay hoay với bài toán bảo tồn bản sắc trước áp lực thương mại hóa. Điển hình là trong du lịch, nhiều điểm đến đến du lịch có các làng nghề vẫn chỉ tập trung vào mô hình tham quan và mua sắm. Các hoạt động trải nghiệm văn hoá mang tính khám phá, tương tác, giáo dục giá trị truyền thống vẫn còn thiếu vắng.
Nhiều cơ sở sản xuất mặt hàng truyền thống đôi khi vẫn nghiêng nhiều về lợi nhuận hơn là phát huy giá trị cốt lõi của mỗi sản phẩm. Nhận thức những lợi thế của sản phẩm thủ công, một số cơ sở sản xuất bất chấp chạy theo thị hiếu nhất thời, sản xuất hàng loạt sản phẩm giá rẻ, thiếu tính thẩm mỹ. Điều này đã khiến sản phẩm trở nên lai tạp, không còn đại diện cho vẻ đẹp và câu chuyện văn hoá đặc trưng của người Việt.
Giữ “hồn” văn hoá giữa áp lực thương mại hóa
Tại diễn đàn Sáng tạo châu Á được tổ chức vào tháng 11/2025, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các mô hình thành phố sáng tạo, mở rộng hệ sinh thái văn hoá và chú trọng phát huy “điểm đến sáng tạo”.
Trước làn sóng công nghiệp hoá văn hoá, sự kết hợp hài hoà giữa hồn cốt dân tộc và thế mạnh về kinh tế sẽ góp phần đưa bản sắc văn hoá Việt Nam phát triển bền vững theo phương hướng mới mẻ, hợp thời đại. Tại Việt Nam, nhiều mô hình sáng tạo mới tại Lào Cai, Lai Châu, Khánh Hoà, Ninh Bình… đang dần hình thành các bản đồ sáng tạo dựa trên nhiều yếu tố, gồm di sản, sản phẩm mỹ nghệ thủ công, phim ảnh, thiết kế…
Theo nhiều chuyên gia và tài liệu nghiên cứu được công bố, trong giai đoạn tới, phương hướng cốt lõi để phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam là chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy đầu tư dàn trải sang trọng điểm, tập trung nguồn lực phát triển có chiều sâu vào những ngành mũi nhọn. Thay vì phân tán, chiến lược quốc gia ưu tiên tối ưu hóa 6 chuyên ngành trọng tâm trong số 10 ngành then chốt, gồm Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm & trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ. Điều này góp phần nhằm đảm bảo sự phù hợp bản sắc riêng biệt của từng địa phương.
Trong hệ sinh thái này, Nhà nước đóng vai trò tiên phong và khơi thông nguồn lực. Thông qua việc hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để cộng đồng và doanh nghiệp trở thành chủ thể sáng tạo chính, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, để hạn chế tối đa tình trạng “thương mại hóa” làm phai nhạt bản sắc dân tộc dưới tác động của công nghiệp hóa, chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ giá trị cốt lõi. Cụ thể, mọi sản phẩm văn hóa phải lấy chất liệu di sản làm nền tảng, coi công nghệ chỉ là phương thức biểu đạt để tăng tính tiếp cận mà không làm sai lệch nguyên bản.
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần thiết lập các “bộ lọc văn hóa” nghiêm ngặt trong khâu thẩm định dự án, đồng thời thực hiện mô hình sáng tạo dựa trên cộng đồng nhằm trao quyền cho các nghệ nhân và người dân địa phương tham gia giữ chuỗi giá trị kinh tế. Việc gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế và trách nhiệm bảo tồn, kết hợp với giáo dục ý thức tự tôn dân tộc cho đội ngũ nhân lực trẻ, sẽ tạo cơ sở vững chắc để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững. Có thể xem đây vừa là động lực kinh tế mạnh mẽ, vừa là lá chắn bảo vệ và lan tỏa bản sắc Việt Nam ra thế giới.


