Theo dữ liệu mới nhất từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, thực phẩm siêu chế biến chiếm khoảng 53% tổng lượng calo tiêu thụ ở người trưởng thành tại quốc gia này. Đối với trẻ em, con số này thậm chí còn lên tới gần 62%.
“Việc tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến có mối liên hệ trực tiếp với sự suy giảm khả năng tập trung và gia tăng nguy cơ sa sút trí tuệ ở người trung niên và người cao tuổi”, tác giả chính Barbara Cardoso, giảng viên cao cấp về dinh dưỡng và tiết chế tại Đại học Monash (Australia), cho biết.
Dù chưa thể kết luận chắc chắn việc tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến là nguyên nhân trực tiếp gây ra sa sút trí tuệ, bà Cardoso nhấn mạnh: "Rủi ro này vẫn tồn tại ngay cả khi đối tượng tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải. Điều đó cho thấy tác hại nằm ở chính quy trình chế biến công nghiệp, chứ không đơn thuần là do loại thực phẩm này lấn át khẩu phần, khiến người tiêu dùng không thể dung nạp thêm những thực phẩm lành mạnh để bù đắp dinh dưỡng”.
Tiến sĩ W. Taylor Kimberly, Giáo sư Thần kinh học tại Trường Y Harvard (Boston), đánh giá đây là một thông tin bổ sung quan trọng làm “dày” thêm các bằng chứng về tác hại tiềm tàng của thực phẩm siêu chế biến đối với não bộ.
Ông Kimberly là tác giả chính của một nghiên cứu tương tự công bố vào tháng 1/2026, cho thấy việc tăng 10% lượng thực phẩm siêu chế biến trong khẩu phần ăn hàng ngày sẽ làm tăng 16% nguy cơ suy giảm nhận thức, bất kể chế độ ăn của đối tượng có nhiều thực vật hay không.
Tuy nhiên, vẫn còn một cơ hội đảo ngược tình thế cho những người kiên trì cắt giảm lượng thực phẩm siêu chế biến. Nghiên cứu của Tiến sĩ Kimberly cho thấy việc thay thế thực phẩm siêu chế biến bằng thực phẩm nguyên chất hoặc ít chế biến trong vòng 5 - 6 năm giúp giảm 12% nguy cơ suy giảm nhận thức.
Một nghiên cứu khác vào tháng 4/2026 cho thấy những người ở độ tuổi 50 - 60, cắt giảm thực phẩm không lành mạnh trong suốt một thập kỷ, đã giảm được 11% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ so với những người không thay đổi chế độ ăn.
![]() |
Thực phẩm nguyên bản và thực phẩm “tiền tiêu hóa”
Chế độ ăn Địa Trung Hải - ưu tiên ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, rau củ, các loại đậu, hạt và dầu ô liu nguyên chất, đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ ung thư, tiểu đường, bệnh tim mạch, đột quỵ và sa sút trí tuệ, đặc biệt ở những người mang hai bản sao gen APOE4 - một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh Alzheimer.
Các chế độ ăn lành mạnh khác như DASH hay MIND cũng tập trung vào thực phẩm chưa qua chế biến, hạn chế đường, thịt đỏ và thực phẩm siêu chế biến để cải thiện sức khỏe tổng thể và não bộ.
Ngược lại, thực phẩm siêu chế biến hầu như không chứa thành phần nguyên bản. Thay vào đó, các thành phần tự nhiên bị tách chiết thành các phân tử, sau đó kết hợp với phẩm màu, hương liệu nhân tạo và chất nhũ hóa có tính kết dính, rồi trải qua quá trình gia nhiệt, ép khuôn để tạo thành bất kỳ hình dạng nào mà nhà sản xuất mong muốn.
Trong khi thực phẩm tự nhiên đòi hỏi hệ tiêu hóa phải làm việc bền bỉ để chắt lọc dưỡng chất, thì thực phẩm siêu chế biến lại giống như đã được máy móc “tiêu hóa sẵn”. Chúng thẩm thấu vào máu với tốc độ chóng mặt, gây ra những cú sốc cho hệ nội tiết và gián tiếp làm suy yếu các chức năng não bộ.
Các chuyên gia cảnh báo rằng những loại thực phẩm này thường chứa nhiều đường, muối và chất béo, nhưng lại thiếu hụt các dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể và não bộ.
Năm 2022, một nghiên cứu trên 10.000 người cho thấy nhóm tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến nhất có tốc độ suy giảm chức năng điều hành nhanh hơn 25% và tốc độ suy giảm nhận thức tổng thể nhanh hơn 28% so với nhóm tiêu thụ ít nhất.
Theo một báo cáo tổng hợp vào tháng 2/2024 từ 45 nghiên cứu trên 10 triệu người, chỉ cần tăng 10% lượng thực phẩm siêu chế biến làm tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc tử vong do hàng chục loại bệnh lý khác nhau.
Mức tăng 10% này mới chỉ là con số khởi điểm. Các chuyên gia cảnh báo rằng nếu lượng thực phẩm siêu chế biến trong khẩu phần tiếp tục tăng lên, tỉ lệ rủi ro đối với sức khỏe cũng sẽ tăng theo tỉ lệ thuận.
Trong đó, đáng báo động nhất là rủi ro tử vong do bệnh tim mạch và các rối loạn tâm thần phổ biến có thể tăng đến 50%. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện bằng chứng cho thấy tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến làm tăng nguy cơ béo phì lên 55%, rối loạn giấc ngủ 41%, tiểu đường loại 2 40% và trầm cảm 20%.
![]() |
Khả năng tập trung và nguy cơ sa sút trí tuệ
Nghiên cứu mới công bố ngày 24/4 trên Tạp chí Alzheimer’s & Dementia: Diagnosis, Assessment & Disease Monitoring đã khảo sát hơn 2.100 người Australia từ 40 đến 70 tuổi. Kết quả cho thấy khoảng 42% chế độ ăn của người dân nước này đến từ thực phẩm siêu chế biến.
Người tham gia cũng được kiểm tra nhận thức nhằm đánh giá khả năng tập trung và tốc độ xử lý thông tin mới. Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, không ai mắc sa sút trí tuệ.
“Cứ mỗi 10% thực phẩm siêu chế biến tăng thêm, chúng tôi ghi nhận sự sụt giảm rõ rệt trong khả năng tập trung của đối tượng. Trên phương diện lâm sàng, điều này được phản ánh qua điểm số thấp hơn trong các bài kiểm tra tiêu chuẩn về chú ý thị giác và tốc độ xử lý thông tin”, tác giả chính của nghiên cứu, bà Barbara Cardoso cho biết.
Khả năng tập trung là nền tảng cho nhiều hoạt động quan trọng của não bộ như học tập và giải quyết vấn đề. Dù chưa tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa thực phẩm siêu chế biến và trí nhớ, nghiên cứu ước tính rằng mỗi 10% thực phẩm siêu chế biến tiêu thụ hàng ngày sẽ làm tăng 0,24 điểm trên thang đo nguy cơ sa sút trí tuệ (từ 0 đến 7 điểm).
Một thực đơn gồm bánh kếp chế biến sẵn cho bữa sáng, khoai tây chiên vào bữa trưa, bánh quy đóng gói làm bữa phụ và pizza cho bữa tối có thể tích tụ lượng thực phẩm siêu chế biến khổng lồ một cách nhanh chóng.
Theo vị tác giả chính, việc loại bỏ thực phẩm siêu chế biến khỏi chế độ ăn có thể giúp giảm nguy cơ, đặc biệt nếu thực hiện trước khi các biến đổi thần kinh xảy ra. Loại thực phẩm này không chỉ gây rối loạn hệ nội tiết và hệ vi sinh đường ruột, mà còn liên quan đến các yếu tố nguy cơ tim mạch như tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì và cholesterol LDL cao, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe nhận thức.
“Giai đoạn trung niên là thời điểm then chốt để can thiệp các yếu tố nguy cơ trước khi những biến đổi bệnh lý thần kinh dẫn đến sa sút trí tuệ hình thành”, bà Cardoso nhấn mạnh.

