Dấu chân người mở cõi
Tương truyền, cách đây gần 400 năm, ấp Hòa Thuận 2 (xã Hiệp Hòa, tỉnh Long An cũ) nay là xã Hiệp Hòa, tỉnh Tây Ninh là vùng rừng rậm, hoang sơ và chưa có dấu chân người. Vùng đất chỉ có dấu vết của các loài dã thú, hùm, beo và rắn rết... Người dân sống thưa thớt cùng nhiều chủng bệnh độc hiểm như đậu mùa, kiết lị, thương hàn, ban, sốt rét... Khi đã mắc bệnh, người dân không có thuốc điều trị và để lại những di chứng suốt đời.
Đến năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được triều đình nhà Nguyễn cử vào Nam kinh lược, ông và đoàn tùy tùng đã dừng chân nơi miền đất Thủ thuộc phía Bắc Sài Gòn, giáp với Biên Hòa, Gia Định, Đồng Nai – nơi có dòng sông Đồng Nai phù sa bồi đắp, đất đai màu mỡ nhưng rất ít dân cư. Nguyễn Hữu Cảnh đã cho xây dựng, lập phủ Trấn Biên tuyển mộ hiền tài, chiêu an bá tánh, mời gọi cư dân vào sinh sống.
Chẳng bao lâu, cư dân vào sinh sống rất đông, có đến hàng trăm họ, nhân khẩu mấy trăm người. Khi tình hình chung ổn định, Nguyễn Hữu Cảnh có ý định mở thêm vùng định cư mới về hướng Tây Nam và vùng Hòa Thuận 2 (xã Hiệp Hòa) là nơi chủ điểm. Ông đã tuyển chọn hàng trăm tráng đinh khỏe mạnh trong dân, lập thành đội dân binh, trong đó có Bà Nguyên nhung Chúa Xứ làm trưởng đoàn chỉ huy mọi việc.
Khi Bà cùng đoàn dân binh đến nơi này (vùng đất ấp Hòa Thuận 2, xã Hiệp Hòa) thì vạn sự khởi đầu nan. Mọi việc đều thiếu thốn từ lương thực, thuốc men, thức ăn, nước uống và dụng cụ khai hoang như cuốc xẻng, búa rìu, dao rựa, cưa… Bà Nguyên nhung đã chọn người biết nghề rèn, dựng lò rèn, tìm sắt thép rèn thêm dụng cụ. Đoàn người khai hoang phải luân phiên nhau, người làm người nghỉ và giữ gìn sức khỏe.
Khó khăn nối tiếp khó khăn, đoàn dân binh làm việc cực nhọc suốt ngày lại không thể ngủ dưới đất mà phải tìm cây cổ thụ làm giàn trên cao để ngủ, phải đốt nhiều đống lửa xung quanh. Vậy mà, khi lửa hạ ngọn, cọp lại mò đến toan phóng lên bắt người. Bà suy nghĩ và cho làm nhiều cung tên, nỏ ná để đối phó, cho cưa đổ cây nhỏ xung quanh cổ thụ, chừa bề cao tới ngực, đẽo thành hàng cọc nhọn vươn lên. Đề phòng, cọp không dám phóng lên vì khi rơi xuống sẽ đâm vào cọc nhọn.
![]() |
Dâng lễ cúng Bà. |
Thế là có hiệu quả. Lần lần, cọp phải đi xa vì bị tên nỏ và hàng chông nhọn vây quanh. Một thời gian lâu, khắc phục mọi khó khăn, công việc khai hoang có hiệu quả, diện tích đất khai khẩn được mở rộng nhiều thêm. Bà đã có tính toán trước, tìm những loại hạt giống ngắn ngày như: đậu, bắp, các loại khoai sắn cùng lúa 3 tháng (lúa mới) gieo trồng vào vùng đất mới, cùng cho chăn nuôi nhiều gia súc, gia cầm cải thiện bữa ăn. Chẳng bao lâu, sản vật và lương thực tăng lên rất nhiều, mọi người đều đủ đầy, no ấm, đúng theo binh pháp “thực túc binh cường”, đúng ý định mà Bà đã chọn trước.
Tiếng lành đồn xa, lần lượt có thêm nhiều cư dân nơi khác tìm đến xin gia nhập vào đoàn cùng chung sống. Bà đón nhận và chỉ định sắp xếp nơi ăn, chốn ở cho tất cả mọi người. Bà Nguyên nhung Chúa Xứ có đức tính luôn giữ phần thiếu hụt vật chất về mình và chọn sự đầy đủ hơn cho những người khác trong mọi hoàn cảnh. Người dân đã có câu thơ tương truyền:
Từ lúc đói đến lúc no
Lo cho người khác hơn lo cho mình
Qua thời gian dài lao động vất vả, chịu đựng thời tiết khó khăn, khắc nghiệt đến khi mọi việc và tình hình ổn định thì cũng là lúc Bà đuối sức và lâm trọng bệnh. Mọi người đều dốc sức lo thuốc thang, chạy chữa nhưng Bà vẫn không qua khỏi. Và một thời gian sau, do tuổi cao, sức yếu, Bà đã qua đời tại mảnh đất này. Bà ra đi trong sự tiếc thương, quý mến của tất cả mọi người. Nhân dân địa phương cùng đoàn đã hợp lực, xây dựng ngôi miếu thờ Bà lại nơi đây. Phần mộ của bà qua năm tháng không còn dấu vết, nhưng người dân chắc chắn phải nằm kề ngôi miếu.
Nơi lưu giữ những nét đẹp văn hóa tín ngưỡng, tinh thần
Để tỏ lòng biết ơn công đức của Bà, triều đình nhà Nguyễn đã phong tước hiệu Nguyên nhung cho Bà Chúa Xứ. Bà đã tổ chức hình thành một sứ quân với hàng trăm dân binh cường tráng, nhưng vẫn chủ trương khai khẩn mở mang, tăng gia sản xuất, làm ra lương thực nuôi sống nhiều người. Về hình tượng, trang phục của Bà cũng được nâng cấp xứng tầm với chức tước Nguyên nhung Chúa Xứ. Nguyện ước của đa số nhân dân địa phương là mọi người luôn đoàn kết, giữ gìn truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, giữ gìn ngôi miếu và Lễ Kỳ Yên được trường tồn mãi mãi, không phụ thuộc công lao của những bậc tiền nhân đi trước đã khổ công khai khẩn vùng đất nơi đây để người dân có được cuộc sống hôm nay và mãi mãi về sau.
Không ai rõ Bà mất năm nào, mọi người chỉ biết qua truyền thuyết. Từ đó, cứ đến ngày 19, 20 tháng Giêng hàng năm là ngày Lễ Kỳ Yên (tức là ngày giỗ Bà). Những lúc thăng trầm thế cuộc, ngôi miếu có lúc bị hư hỏng nặng gần như hoang phế, nhưng với lòng tôn kính, mọi người đã quyết tâm, chung tay hợp lực tu sửa, giữ gìn. Tuy mái tranh vách lá để nắng che mưa nhưng vẫn đủ đầy hương khói, ngày đêm ấm áp. Qua rất nhiều thay đổi, nhưng bất cứ thời điểm nào, thời cuộc nào, những người có chức trách ở địa phương đều tỏ lòng tôn kính Bà cùng với nhân dân cúng lệ hàng năm không sai sót.
Ngôi miếu xây cửa về hướng Đông, phía trước miếu chừng hơn 100 mét có một cái bàu tuy không lớn nhưng quanh năm luôn có đầy đủ nước mát. Khi đó có cặp rắn long thừa rất lớn mỗi chiều ra tắm mát, đùa giỡn trong bàu, tối đến lại vào trú ẩn trong ngôi miếu, có nhiều người trông thấy từ xa.
![]() |
Múa lân phục vụ Lễ hội. |
Thời gian trôi qua, cặp rắn ấy bỗng nhiên biến mất không còn ai trông thấy. Từ đó còn có truyền thuyết, đó là cặp rắn thần đã từng bí mật theo bảo vệ từ khi Bà Nguyên nhung Chúa Xứ mới đến đến nơi này. Nay Bà đã có nơi an nghỉ là ngôi miếu thì đôi rắn biến mất vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Từ đây, bàu có tên là bàu Ông Thừa… Hiện nay, phần đất có ngôi bàu bị lấp bằng bề mặt nhưng vị trí tên tục bàu Ông Thừa vẫn còn nhiều người biết đến.
Có nhiều thời điểm mưa thuận gió hòa, mùa màng trúng vụ, địa phương còn tổ chức vài đêm hát chập, tức là trích đoạn từ những vở tuồng xưa hay, có một số đào kép địa phương, rước thêm một số ở các đoàn hát khác về cùng trình diễn. Dân chúng có dịp đến xem rất đông, rất hả hê vui vẻ vì qua thời gian lao động mệt nhọc có dịp được giải trí bằng món ăn tinh thần quý giá lại thêm xem hát khỏi trả tiền.
Đó là thời điểm từ rất xa xưa được kể lại. Hiện nay, ngôi miếu Bà được tôn tạo khá hoành tráng, khang trang vững chắc qua lần tu sửa thứ 2 quy mô hơn. Năm 2024, ông Võ Quan Huy (người dân thường gọi là Út Huy), gia đình họ tộc chủ xướng đứng ra vận động thêm đóng góp của một số mạnh thường quân cho Lễ Kỳ Yên diễn ra hàng năm tăng thêm phần trang trọng.
Cụ ông Trần Văn Đải, Trưởng Ban quý tế bày tỏ sự biết ơn ông Võ Quan Huy, gia đình và họ tộc cùng một số mạnh thường quân đã có lòng tích thiện từ tâm, nhiệt tình tài trợ mọi mặt cả tinh thần và vật chất. Theo ông, công sức này to lớn lắm, không thể không ghi nhớ và công khai cho mọi người cùng biết vì đó là gương người tốt việc tốt, nghĩa cử đáng trân trọng. Ngoài ra còn nhiều việc thiện khác rộng lớn hơn. Hàng năm đều có nhiều người khó khăn, thiếu thốn tại địa phương và nhiều địa phương khác được nhận từ tấm lòng thiện nguyện của gia đình Út Huy: đó là những phần quà đầy tình nghĩa dịp Tết nguyên đán, mặc dù người ơn thì không nhớ nhưng người thọ ơn cũng chớ nên quên, đó cũng là đạo lý đã có từ ngàn xưa lưu lại.
Mời các bạn đón đọc Bài 2: Khát vọng thịnh vượng

