Theo các ghi chép lịch sử, vùng đất này xưa kia dân cư thưa thớt, vốn là đầm lầy hoang vu hẻo lánh và rừng rậm nhiều thú dữ, cây môn nước mọc um tùm dày đặc ở khắp nơi nên những người đầu tiên đến đây quen miệng gọi là Hóc Môn cho thuận tiện.
Cuối thế kỷ 17, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn, cùng đoàn tuỳ tùng vào kinh lược phương Nam. Thuở ấy, Trịnh – Nguyễn phân tranh, đời sống người dân lầm than, khổ cực nên rất đông dân chúng khăn gói theo ông vào cuộc khai hoang mở mang xứ Đàng Trong.
![]() |
| Kiến trúc bên ngoài đình Tân Thới Nhì. |
Lưu dân bắt đầu toả ra khắp vùng Đồng Nai - Gia Định để khẩn hoang, lập ấp và Hóc Môn có những dấu chân đầu tiên của thời mở cõi. Đến khoảng năm 1818, thôn Tân Thới Nhì (thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định) được hình thành, một trong những địa danh đầu tiên của “18 thôn vườn trầu” nức tiếng ngày trước.
Theo phong tục xưa, mỗi thôn làng sau khi được hình thành sẽ xây dựng một ngôi đình riêng để thờ cúng hoàng thiên, hậu thổ... mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Đình làng Tân Thới Nhì ban đầu có quy mô rất nhỏ, được làm bằng tre, cây gỗ đơn sơ nằm cạnh bờ con rạch trong khu vực cầu Hoang.
![]() |
![]() |
Kiến trúc bên trong đình Tân Thới Nhì. |
Theo Ban Quý tế Đình Tân Thới Nhì, ông Phạm Quỳnh (hay Phạm Văn Quỳnh) là người có công khai khẩn đất đai, quy tụ dân cư, đặt nền móng cho làng. Tiếp đó, ông Cao Đức Lân vận động bà con xây dựng các công trình phục vụ cộng đồng, góp phần ổn định đời sống.
Ghi nhớ công lao ấy, người dân nơi đây tôn ông Phạm Quỳnh là Tiên hiền khai khẩn, ông Cao Đức Lân là Hậu hiền khai cơ và khói hương thờ phụng. Năm 1852, vua Tự Đức ban sắc phong Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh thôn Tân Thới Nhì.
![]() |
| Chiếc võng của Thần Thành hoàng được che cẩn thận trong Đình. |
Một thời gian sau, Hóc Môn có ông Trịnh Thiêm là người Triều Châu đến sinh cơ lập nghiệp, ông làm ăn phát đạt và trở nên giàu có, được lưu dân cử làm Bang trưởng. Ông Trịnh Thiêm sau đó hiến mảnh đất có vị trí thuận lợi ngay đầu chợ để người dân di dời Đình về đây, hoàn thành vào năm 1902.
Năm 1935, Đình được đại trùng tu, sửa chữa, trang trí các mảng phù điêu hoa văn cắt ghép với kỹ thuật tinh tế; sau đó được thay ngói, chống dột và sơn quét vôi... Nhiều năm trôi qua, Đình không còn giữ được dáng vẻ của ngày trước nhưng vẫn nổi bật đường nét thẩm mỹ điêu khắc mang đậm nét văn hoá kiến trúc nghệ thuật đình làng miền Nam.
![]() |
Kiến trúc Chánh điện của Đình. |
![]() |
Kiến trúc ở Trung điện. |
Đình được xây dựng gồm ba toà nhà chính Tiền điện – Võ cơ – Chánh điện (Tiền đường – Trung đường – Chánh tẩm), xung quanh là ba dãy nhà xếp hình chữ U. Toàn bộ mái của ngôi đình được lợp bằng ngói âm dương ba lớp, chân mái được viền bằng lớp ngói tráng men.
Trên nóc Đình là những hình tượng như: Lưỡng long triều nhật – Lưỡng long triều nguyệt – Lưỡng long tranh châu, Long Lân Quy Phụng và bát tiên được chạm khắc bằng những miếng sành sứ, màu sắc đường nét độc đáo, phong phú.
Bên trong ba toà nhà chính được bày trí hương án bằng gỗ, sơn son thếp vàng... Chính giữa Chánh điện thờ Thành hoàng, Tiên hiền – Hậu hiền... cùng lư chiêng trống mõ và hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu... được chạm khắc thủ công, mang vẻ đẹp tinh xảo của nghệ nhân xưa.
![]() |
Nét kiến trúc Rồng tại Đình. |
![]() |
Hình tượng Lưỡng long tranh châu trên mái Đình. |
Năm 2005, Đình Tân Thới Nhì được UBND TP.HCM xếp hạng công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật.
Ông Huỳnh Văn Kình (87 tuổi) - Trưởng ban Quý tế Đình Tân Thới Nhì gắn bó với ngôi đình từ những năm 1990 đến nay, cho biết: "Sắc phong gốc do vua Tự Đức ban đã bị thất lạc nên bây giờ chỉ còn bản sao, được đặt dưới chữ ‘Thần’ trong Đình”.
![]() |
Bảng xếp hạng di tích cấp thành phố của Đình. |
Theo ông, trước đây ngôi đình có một thời gian từng được sử dụng làm Uỷ ban xã. Sau khi Nhà nước bàn giao lại Đình vào năm 1990, Ban Quý tế chỉ gia cố những hạng mục xuống cấp chứ không thay đổi kiến trúc nguyên gốc.
Mỗi năm, Đình đều được sửa chữa nhưng kinh phí hỗ trợ chỉ đáp ứng một phần nên Ban Quý tế phải trích thêm tiền quỹ để làm. “Chuyện kinh phí không phải là điều trăn trở nhất mà là thiếu người kế tục. Người trẻ nhất trong Ban Quý tế cũng hơn 50 tuổi, chúng tôi chỉ mong có lớp trẻ tiếp nối để gìn giữ truyền thống ngôi đình này”, ông nói.
![]() |
| Bản sao sắc phong của vua Tự Đức được đặt trang trọng dưới chữ "Thần". |
Gần tám năm nay, bà Lê Thị Kim Phượng lặng lẽ chăm sóc nơi này mỗi ngày. Sáng nào người phụ nữ hơn 50 tuổi cũng mở cửa, quét sân, lau dọn các gian thờ và chuẩn bị hoa cúng vào các ngày rằm, mùng Một. Trước đây, Đình chỉ mở vào những ngày lễ nên khá vắng vẻ nên bà cùng Ban Quý tế đề xuất mở cửa vào các buổi sáng để người dân và du khách có thể đến tham quan.
Hằng năm, vào ngày 14 và 15 tháng hai Âm lịch, Đình tổ chức Lễ Kỳ yên - lễ cúng lớn nhất trong năm nhằm tưởng nhớ Tiên hiền, Hậu hiền, tạ ơn Thần Thành Hoàng và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, người dân làm ăn thuận lợi.
![]() |
Ông Kình (trái) Trưởng ban và Phó Ban Quý tế - những người gìn giữ ngôi đình hiện nay. |
Theo ông Huỳnh Văn Kình, cứ ba năm một lần, trong dịp đáo lễ, tiếng trống hát bội lại vang lên dưới mái đình. Ban Quý tế luôn mong muốn năm nào cũng có thể tổ chức để gìn giữ nét văn hóa truyền thống nhưng kinh phí còn hạn chế nên chỉ có thể thực hiện như vậy.
Trải qua gần 200 năm, Đình Tân Thới Nhì vẫn là nơi để người dân địa phương kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc, lưu giữ ký ức về vùng đất xưa và ghi ơn những người đi đầu trong cuộc khai hoang, mở cõi.










